|
 A LIFE FOR GOD
Tác phẩm được viết bởi Lavonne Neff
Nhà
Xuất Bản Servant Publication
Năm 1995
MỘT ĐỜI DÂNG CHÚA
¯
CHƯƠNG V
HÃY CHIẾU SÁNG TRONG CON
Mẹ Teresa rất thích lời kinh này của John Henry Newman, một nhà thần học người Anh thế kỷ XIX và cũng là một hồng y. Vào cuối Thánh Lễ mỗi ngày, các Thừa Sai Bác Ái thường đọc lời kinh này với nhau.
Lạy Chúa Giêsu thương mến, xin hãy ban cho con toả lan hương thơm của chúa đến những nơi nào chúng con đi tới. Xin hãy ngập tràn tâm hồn con bằng thần khí và sức sống Chúa. Xin hãy ngự trị và sở hữu toàn thân con để cuộc sống của con chỉ có thể toả chiếu sức sống Chúa.
Xin hãy chiếu sáng trong con, và ở trong con, để bất cứ những ai chúng con đi tới tiếp xúc họ đều cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn con. Xin Chúa cho họ nhìn thấy và nhận ra không phải là con nữa nhưng chỉ một mình Chúa thôi, lạy Chúa ! Xin ở lại trong con, để con bắt đầu chiếu toả như Chúa chiếu soi cho bao người khác. Chúa Giêsu ơi, ánh sáng ấy phải bắt nguồn từ chính Chúa; và không một ánh sáng nào là của con; ánh sáng là chính Chúa đang chiếu soi cho người khác qua con. Xin hãy cho con biết ca ngợi chúa theo phương cách Chúa yêu thích nhất, bằng sáng chiếu trên những người sống chung quanh con.
Xin Chúa cho con biết rao giảng không phải bằng giảng thuyết, nhưng bằng chứng nhân, bằng hấp lực, bằng ảnh hưởng từ ái, bằng trái tim tràn đầy tình yêu thương của Chúa trong tâm hồn con. Amen.
Lời kinh được sáng tác dựa trên những lời của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi: “Các con là ánh sáng thế gian. Một thành phố xây trên núi thì không tài nào che giấu được. Người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới gầm giường. Nhưng họ sẽ để đèn trên giá để nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của chúng con cũng phải được chiếu toả cho người khác, để mọi người nhìn thấy những điều tốt đẹp của các con mà cất lời ngợi khen Cha trên trời.”(Mt 14-16).
Mẹ Teresa đã hiến dâng đời mình để cho Chúa Giêsu chiếu sáng qua Mẹ. Mẹ không nói về Chúa nhiều lắm. Thực ra Mẹ không cần làm điều đó: nhưng mọi người đã nhìn thấy Chúa Giêsu qua Mẹ, bởi vì Mẹ đang làm công việc của Ngài trong tinh thần của Ngài.
Lạy chúa Giêsu thương mến, xin hãy giúp con toả lan hương thơm của Chúa đến những nơi nào chúng con đi tới. Xin hãy ngập tràn tâm hồn con bằng thần khí và sức sống Chúa. Xin hãy ngự trị và sở hữu toàn thân con để cuộc sống của con chỉ có thể toả chiếu sức sống Chúa ...
{ Chúa Giêsu đã gọi chọn chúng ta cho riêng Ngài; chúng ta thuộc về Ngài. Chúng ta phải xác tín về điều này đến nỗi chúng ta không cho phép bất cứ điều gì, dù nhỏ mọn, làm chúng ta xa rời tình yêu này.
{ Trong khi chúng ta đang chuẩn bị để đón mừng Lễ Chúa Thánh Thần, Mẹ cầu nguyện cho các con để Chúa Thánh Thần đổ tràn đầy ơn thanh tẩy các con để các con có thể nhìn thấy khuôn mặt của Thiên Chúa nơi mỗi người và nơi những người nghèo mà các con đang phục vụ. Mẹ Chúa Thánh Thần giải thoát các con khỏi những điều gian dối-cả thể xác , linh hồn, tâm trí, ý muốn và trái tim- để mỗi người trong các con trở nên những nhà tạm sống động của Thiên Chúa Tối Cao, và trở thành người mang tình yêu và lòng thương xót của Chúa đến cho tất cả mọi người. Ask the Holy Spirit to make you a sinner without sin.
{ Kinh Thánh đã nói với chúng ta: “Ta đã gọi con bằng chính tên con. Con thuộc về Ta. Con thật quí giá trước mặt Ta. Ta thương mến con.” Thiên Chúa đã tuyên bố rằng chúng ta thật quí giá trước mặt Ngài. Ngài yêu thương chúng ta, và Ngài muốn chúng ta đáp trả tình yêu của Ngài. Về mộtphương diện nào đó, điều này thích hợp hơn đối với chúng ta, những người đã cam kết hiến thân thuộc trọn về Thiên Chúa. Ơn gọi của các con, cũng như ơn gọi của Mẹ, có thể tóm gọn trong điều này: thuộc về Đức Giêsu, yêu mến Ngài với một niềm xác tín rằng không ai và không có gì có thể chia cắt chúng ta khỏi tình yêu của Đức Kitô. Chúng ta muốn yêu Ngài với một tình yêu không chia sẻ qua sự khiết tịnh. Chúng ta ước ao sống đời nghèo khó vì Ngài. Chúng ta muốn hoàn toàn tự do phó thác cuộc đời và tương lai cho Ngài. Chúng ta muốn trao hiến thân mình một cách thật quảng đại qua sự vâng phục và qua việc chăm lo cho những người đau khổ.
{ Lý tưởng của chúng ta không ai khác ngoài Chúa Giêsu. Chúng ta phải nghĩ như Ngài nghĩ, yêu như Ngài yêu, và ước muốn như Ngài đã ước muốn; chúng ta phải để cho Ngài xử dụng chúng ta một cách trọn vẹn cho kế hoạch tình yêu của Ngài. Thật tuyệt vời biết bao khi nhìn ngắm sự khiêm hạ của Chúa Kitô-“Đấng, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,6-7).
{ Một ngày kia, Thánh Magaret Maria đã hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, Ngài muốn con làm gì?” Chúa Giêsu trả lời: “Hãy cho Cha một cánh tay của con”. Ngài sẽ thực hiện công trình thánh hóa thiêng liêng này, không phải các con, và Ngài chỉ đòi các con dâng cho Ngài sự ngoan ngoãn dễ bảo. Hãy để Ngài làm trống rỗng và biến đổi các con, và sau đó Ngài sẽ làm cho chén lễ mà các con dâng trong Thánh lễ mỗi ngày được đầy tràn tới miệng, để đến lượt các con, các con cũng trao ban dư đầy cho người khác. Hãy ngắm nhìn Ngài trong ngôi nhà tạm bé nhỏ; dán mắt vào Ngài là ánh sáng; hãy để trái tim các con lại gần hơn với trái tim Ngài; hãy xin Ngài ban cho các con được ơn nhận biết Ngài, được yêu mến Ngài, và lòng can đảm để phục vụ Ngài. Các con hãy nhiệt thành tìm kiếm Ngài.
{ Nếu các con trao cho người khác một Đức Kitô bị suy nhược, một Đức Kitô khập khiễng, vặn vẹo, vì bị các con làm biến dạng, thì đó là tất cả những gì họ sẽ nhận được. Nếu các con muốn họ yêu mến Ngài, thì trước hết họ phải biết Ngài là ai. Vì thế, trước hết, hãy trao ban cho các chị em của chúng con một Đức Kitô trọn vẹn, sau đó hãy trao tặng Ngài cho người nghèo trong các khu ổ chuột: một Đức Kitô đầy sự hăng hái, thương yêu, vui vẻ và phấn khởi. Tôi có đạt được mục tiêu này của tôi không ? Liệu tôi có đang là một tia sáng yếu ớt, một thứ ánh ánh sáng mờ nhạt, hay một cái bóng đèn không có dây dẫn, không có dòng điện, nên cũng chẳng phát được tí ánh sáng nào không ? Hãy để trái tim chúng con vào vùng ánh sáng rực rỡ. Hãy nói vói Ngài: “Lạy Chúa, xin hãy ban cho con biết tỏa lan hương thơm của Chúa đến những nơi nào chúng con đi tới.”
{ Hãy để cho người nghèo, khi nhìn thấy các con, bị hấp dẫn và được lôi kéo đến cùng Đức Kitô. Cái nghèo đã làm cho họ ra cay đắng và cộc cằn, họ thường nói năng và hành động mà không hoàn toàn ý thức điều mình làm. Liệu họ có nhớ đến Đức Kit ô khi nhìn thấy các con bởi vì các con nhắc nhở họ về Đức Kitô không? Hãy lôi kéo họ về với Chúa, nhưng không bao giờ, không bao giờ về phí các con. Nếu các con không tìm cacgs lôi kéo họ về với Chúa, thì các con đang tìm kiếm chính các con, và mọi người yêu mến các con vì các con, và không phải bởi vì các con đã nhắc nhở họ về Chúa Kitô.
{ Các con đừng tìm Chúa Giêsu ở nơi nào xa xăm- Ngài không có ở đó. Ngài đang ở thật gần chúng con, Ngài đang ở với chúng con. Chỉ cần các con giữ cho ngọn đèn của chúng conn luôn cháy sáng và các co sẽ luôn được nhìn thấy Ngài. Các con hãy luôn đổ đầy bình của các con bằng những giọt dầu nhỏ bé của tình yêu, và các con sẽ thấy Thiên Chúa mà các con yêu mến thật ngọt ngào xiết bao.
{ Một Thừa Sai Bác Ái là người mang sứ điệp tình yêu của Chúa, là ngọn đèn sống động mang lại ánh sáng cho tất cả mọi người. Chúng ta phải đưa Đức Kitô đến những nơi mà Ngài chưa được ai biết tới.
Các chị em phải luôn được nuôi dưỡng bàng một mơ ước duy nhất là : Chúa Giêsu. Chúng ta không sợ làm những việc Ngài đã làm. Chúng ta phải can đảm đối diện với nguy hiểm và ngay cả cái chết vì tình yêu mến Ngài, và với sự trợ giúp của Ngài.
Một Thừa Sai sẽ luôn mang lợi ích của Đức Kitô trong tâm hồn mình. Và lửa yêu mến luôn ở trong mình họ. Tình yêu này sẽ cho họ sức mạnh để luôn trao ban không mệt mỏi. Chính điều này sẽ trở nê mục đích và niềm vinh quang của họ.
Hãy chiếu sáng trong con, và ở trong con để những ai chúng con đi tới tiếp xúc họ sẽ cảm nhận Chúa đang hiện diện trong tâm hồn con. Xin Chúa hãy cho họ nhìn thấy và nhận ra không phải chúng con nữa nhưng chỉ một mình Chúa Giêsu thôi ! Xin hãy ở lại trong con và như vậy con sẽ bắt đầu chiếu tỏa như Chúa chiếu soi cho bao người khác. Chúa Giêsu ơi, ánh sáng ấy phải bắt nguồn từ chính Chúa và không một ánh sáng nào là của chúng con; ánh sáng ấy là chính Chúa đang chiếu cho người khác qua chúng con. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết ca ngợi Chúa theo phương cách Chúa yêu thích nhất, bằng sáng chiếu trên những ngưuowif soiongs chung quanh chúng con.
* Chúng ta giống như những chiếc máy. Khi một bộ phận nhỏ trong bộ máy không làm việc, thì toàn bộ cỗ máy cũng không hoạt động.
* Thánh Têresa, Bông Hoa Nhỏ thành Lisieux đã nói: “Khi tôi suy nghĩ và hành động với đức bác ái, tôi cảm thấy chính là Chúa Kitô đang làm việc trong tôi. Càng gần gũi và hợp nhất với Ngài, tôi càng yêu mến tất cả những người khác ở trong dòng Carmel.” Để hiểu và thực hành điều này, chúng ta rất cần cầu nguyện là mối dây hiệp nhất chúng ta với Thiên Chúa và mọi người. Công việc bác ái của chúng ta chẳng là gì cả ngoài sự tràn trào mối tình yêu của chúng ta cho Thiên Chúa.Vì thế, ai trở nên hợp nhất với Chúa hơn cả, người đó yêu mến anh em mình nhiều nhất.
* Cuoocj đời của Chúa Kit ô đã không được viết ngay khi Ngài còn tại thế, cho dù Ngài đã haonf thành công việc quan trọng nhất là : cứu chuộc thế giới và dạy cho loài người biết yêu mến Chúa Cha. Công việc của chúng ta giờ đây cũng là công việc của Chúa Kitô, và vì thế chúng ta phải là những công cụ của Ngài, thi hành phận sự nhỏ bé của chúng ta và sau đó biến đi.
* Chúng ta không nên sợ mang Chúa Giêsu cho những người khác. Chúng ta không nên sợ diễn tả tình yêu trong hành động. Chúng ta không được sợ cầu nguyện, làm việc, và biến công việc của chúng ta thành lời cầu nguyện. Đây là điều mà một người xuất sắc ở Âna Độ đã nói: “Khi tôi nhìn thấy các sisters đi trên những đường phố Calcutta, tôi luôn có cảm tưởng rằng Chúa Giêsu Kitô lại đến trong thế giới này, và Ngài đang đi đi lại lại, đang làm những việc tốt lành qua các sisters.” Những lời này đã đưuowcj diễn tả một cách hết sức tốt đẹp, và đã được gửi đến Mẹ. Mẹ rất thích lặp lại điều đó chp mọi người, đăqcj biệt là cho các con, những cộng tác viên của Mẹ. Xuyên qua những việc từ thiện chân thành của các con đối với người nghèo, Đức Kitô sẽ lại đến và thi thố muôn ơn lành cho con người. Nhưng ai thấy các con sẽ nhìn thấy Đức Kitô trong các con.
* Như Chúa Giêsu không còn sống cuộc thương khó nơi thân xác của Ngài nữa- Mẹ Giáo Hội đã ban cơ hội để cho Chúa Giêsu tiếp tục sống cuộc thương khó và cái chết của Ngài trong thân xác, tâm trí và linh hồn chúng ta. Không có sự so sánh nào có thể so sánh được với cuộc thương khó và tử nạn của Ngài. Chúng ta vẫn cần rất nhiều ân sủng để biết đón nhận bất cứ điều gì Ngài ban tặng và dâng bất cứ điều gì Ngài muốn với tình yêu và với nụ cười trên môi.
* Có thể là các con đang viết, và những tư tưởng ngập tràn trong lòng cũng được dàn trải ra theo bàn tay của các con. Trái tim của các con có thể lên tiếng qua việc viết lách. Tâm hồn các con cũng có thể nói qua đôi mắt. Các con biết rằng khi các con nhìn người khác, họ phải nhìn thấy Chúa trong đôi mắt các con. Nếu các con đãng trí và sống theo thế tục thì người ta không thể nhìn thấy Chúa nơi các con được. Sự đầy tràn của tâm hồn chúng ta thường được diễn tả qua ánh mắt, trong sự đụng chạm, và trong những điều chúng ta viết, trong điều chúng ta nói, trong cách chúng ta đi, chúng ta nhận và trong cách thức chúng ta cần.
* Mẹ ước được sống trong thế giới này, một thế giới thật xa Thiên Chúa, đã đi quá xa ánh sáng của Chúa Giêsu, để giúp họ - những người nghèo túng và đau khổ - chia bớt trên Mẹ những sự đau đớn của họ. Vì chỉ bằng cách trở nên một với họ mà chúng ta mới có thể cứu vớt họ, đó là, bằng việc mang Chúa vào trong đời sống của họ và đem họ về với Thiên Chúa.
* Mục đích đặc biệt của Hội dòng chúng ta là lao động vì sự hoán cải và thánh hóa những người nghèo, đó là chăm sóc người đau ốm và hấp hối, thu gom các trẻ em dduwowngf phố và dạy cho chúng, thăm hỏi và chăm sóc cho những người ăn xin và con cái của họ, bằng việc mở những mái ấm cho người bị bỏ rơi. Lao động vì sự hoán cải và thánh hóa những người nghèo bao hàm những sự hà khắc và cực nhọc vất vả liên miên, không có sự thành đạt, không tính toán công trạng. Lao động và thánh hóa là công việc của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa, trong lòng thương xót vô bờ bến của Ngài, đã chọn những Thừa Sai Bác Ái để giúp Ngài trong công việc của riêng Ngài. Đó là ân huệ đặc biệt dành cho các Thừa Sai Bác Ái, không vì một chút công nghiệp nào của họ, để mang ánh sáng của Đức Kit ô vào những hóc tối của những khu ổ chuột. “Thầy đã có thức ăn mà anh em không biết. Hãy ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái”(Ga 4, 32-35). Đây là thức ăn của chúng ta, đó là sự hoán cải và thánh thiện của các linh hồn.
* Khi chún ta làm công việc của ‘chúng ta’, thăm viếng các gia đình, dạy học cho các trẻ em, chăm sóc người đau yếu, giúp những người hấp hối, tập trung các trẻ em vì Hội Thánh, chúng ta làm việc đó với một mục đích duy nhất là : sự cứu độ của người nghèo. Chúng ta muốn đêm họ cho Chúa Giêsu và mang Chúa Giêsu đến cho họ.
* Kiến thức mà chúng ta truyền đạt cho người khác phải là kiến thức về Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Thánh Augustinô nói: “Before allowing his tongue to speak, the apostle ought to raise his thirsting soul to God, and then give forth what has drunk in and pour fourth what he has bên filled with”.
* Sự nhiệt thành vì các linh hồn là hiệu quả và bằng chứng của tình yêu Thiên Chúa thực thụ. Nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa thực lòng, chúng ta phải bị hao mòn và thiêu đốt với mơ ước cứu rỗi các linh hồn, là mơ ước lớn nhất và tha thiết nhất của Chúa Giêsu. Therefore, zeal is the test of love and the test of zeal is devotedness to his cause- spending our life and energy in the work for souls.
* Chúng ta phải mang Chúa đến những nơi mà trước đây Ngài chưa đi đến. Vì thế, các chị em phải luôn bị hao mòn và thiêu đốt với một ao ước là : Chúa Giêsu. Chúng ta chỉ nói về một mìnhChúa Giêsu. Chúng ta không được sợ làm những việc Ngài đã làm, can đảm ra đi với Ngài và cho Ngài, bất chấp nguy hiểm và cái chết.
Một Thừa Sai Bác Ái luôn mang sự quan tâm của Chúa KIt ô trong tâm lòng và tâm trí. Trong lòng luôn có lửa của lòng mến và sự tận tụy nhiệt thành cho vinh quang nước Chúa và sự cứu rỗi các linh hồn. Tình yêu này khiến họ không ngừng trao ban và hao mòn sức lực. Điều này trở nên đối tượng thực sự trong cuộc sống và trong niềm vui của họ.
Một nữ tu Thừa Sai Bác Ái phải chết di từng ngày, nếu chị muốn mang các linh hồn về cho Chúa. Chị phải sẵn sàng trả cái giá mà Ngài đã trả vì các linh hồn, và sắn sàng đi trên con đường Ngài đã đi.
* Đức tin thánh thiện của chúng ta không là gì cả ngoại trừ một phúc âm của tình yêu, đức tin đó mặc khải cho chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại và kêu mời mọi người hãy đáp trả tình yêu ấy. Một nữ tu Thừa Sai Bác Ái phải là một thừa sai của tình yêu. Chúng ta phải làm tỏa lan tình yêu của Thiên Chúa trên khắp mặt đất này nếu chúng ta muốn làm cho các tâm hồn hoán cải, thêm sức mạnh để họ chống lại các cám dỗ, làm họ gia tăng lòng quảng đại và ao ước chịu đau khổ vì Chúa Kitô. Let us “act Christ’s love among men and women,” hãy nhớ những lời trong sách Gương Chúa Giêsu: “LOve feels no burden, values no labours, would willing do more than it can ( Tìm trong sách Gương chúa Giêsu )
Xin hãy ban cho con biết rao giảng không khải bằng giảng thuyết, nhưng bằng chứng nhân, bằng hấp lực, bằng ảnh hưởng từ ái, bằng trái tim tràn đầy tình yêu thương của Chúa trong tâm hồn con. Amen.
* Có quá nhiều đau khổ ở khắp mọi nơi. Các con hãy cố gắng sống thánh thiện và sốt sắng. Thiên Chúa sẽ dùng chúng con để làm dịu bớt những đau khổ này. Tin mừng đã được rao giảng cho người nghèo để chứng minh rằng Đức Kitô là Thiên Chúa, rằng Ngài là đấng Mêsis mà muôn dân trông đợi. The proof that this is God’s work is also that the gospel is spreached to the poor. Các con hãy cầu nguyện và tán tạ hồng ân Thiên Chúa đã thương gọi chọn các con sống đời sống này và làm các công việc này.
* Chúng ta là những công cụ trong việc rao truyền Lời Chúa cho những người nghèo, những người lếch thếch, những người lo buồn và cô đơn khắp nơi. Mặc dù chúng ta không xứng đáng, nhưng Thiên Chúa đã gọi chọn chúng ta để làm cho thế giới không biết đến Thiên Chúa được biết và yêu mến Ngài. Chúng ta được đặc ân vào tận nhà những người nghèo và những người lơ là trong đức tin, để thúc giục và lôi kéo họ cùng con cái ra khỏi giường để cùng nhau ca ngợi chúng tụng Chúa giữa lòng Giáo Hội, tham dự vòa hy tế của Giáo Hội, và ăn Tiệc Chiên Thiên Chúa. Điều mà ngày nay Công đồng Vatican ô II đang kêu mời thì, nhờ ơn Chúa, chúng ta đã và đang thực thi ngay từ những ngày đầu hình thành nên hội dòng chúng ta.
* Lần kia, có một người đã hỏi Mẹ: “Tại sao hội dòng của Mẹ ra nước ngoài? Mẹ không đủ những người nghèo tại Ấn Độ sao ?” nên Mẹ đã trả lời: “Tôi nghĩ rằng Chúa Giêsu đã nói với chúng tôi hãy ra đi rao giảng cho muôn dân.” Đó là lý do tại sao mà chúng tôi đã ra đi và rao truyền tình yêu và lòng trắc ẩn của Ngài cho khắp các dân tộc.
Q : Các thừa sai ngày trước đã từ các nước được coi là văn minh được sai đến các nước thuộc thế giới thứ ba, còn bây giờ các sisters lại từ Ấn Độ để phúc âm hóa chúng tôi sao ?
MT : Đó chính là điều Đức Giêsu đã nói: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc”. Tây Ban Nha là một trong các nước mà chúng tôi muốn đến. Như thánh Phanxicô Xaviê đã là một món quà cho Ấn Độ, thì bây giờ Ấn Độ đang gửi những thừa sai đã được chính Thánh nhân huấn luyện để tái truyền giáo Tin Mừng cho Tây Ban Nha. Đây là dấu hiệu của niềm vui được yêu mến Thiên Chúa: đó là chia sẻ tình yêu với người khác.
* Hoán cải có nghĩa là dẫn về cùng Thiên Chúa. Thánh hóa có nghĩa là được đầy tràn Thiên Chúa. Hoán cải và thánh hóa là công việc của Thiên Chúa. Nhưng trong lòng thương xót vô tận của Ngài Thiên Chúa đã chọn các Thừa Sai Bác Ái để giúp Ngài trong công việc của chính Ngài.
Loan truyền ánh sáng của Đức Kitô đến những góc đường tối tăm của nhưng khu ỏ chuột là một ưu đãi đặc biệt đã được ban cho chúng ta, mà không vì một công nghiệp nào từ phía bản thân chúng ta. Những Thừa Sai Bác Ái sẵn sàng dâng hiến hết mình để tìm kiếm những người hấp hối đau khổ từ những nơi hẻo lánh, nghèo nàn và tăm tối nhất.
Quan tâm là biểu hiện của tình yêu thực sự. Diligence, eagerness, fervor, are the test of love; and the test of fervor is the willingness to devote one’s life to working for souls. We must not feel attached to a single place; we must be willing to go all over the world.
* Khi phải nói, chúng ta không được sợ. Sẽ có người bảo cho chúng ta biết phải nói gì và nói như thế nào. Chúa Kitô phải được rao giảng làm sao để chúng ta có thể nói với những người ngoại giáo rằng họ có thể nhận biết Thiên Chúa, với những người dị giáo và ly giáo rằng họ có thể trở lại với đường ngay chính, với những công giáo ơ hờ rằng họ sẽ nhận được lòng thương xót của Chúa, và với những người tốt lành và đạo đức rằng họ có thể tận hiến hoàn toàn cho tình yêu Thiên Chúa.
* Một nữ tu phải mang trong mình một điều thật rõ ràng: phải cứu một linh hồn nào đó, phải mang một tâm hồn về với Chúa. Chị nữ tu phải hết sức tử tế và dịu dàng: trong sự đụng chạm của bàn tay, trong sự ôn tồn của giọng nói, trong nụ cười – bởi vì công việc của chị hết sức tế nhị. Nirmal Hriday (một bệnh viện do các Thừa Sai Bác Ái điều hành) là một ngôi nhà thật quí giá, và cũng là một bệnh viện thực sự. Một lời nói hay một cái nhìn thiếu tế nhị cũng đủ làm hư việc ở nơi đây. Một đức bác ái hoàn hảo như vậy không ở luôn trong chúng ta nhưng chúng ta phải có gắng đạt được điều đó – bằng sự dịu dàng trong hành động của chúng ta. Các con sẽ không học được sự ân cần khi chăm sóc những người đau yếu nếu các con không thử làm việc đó với những người khỏe mạnh, bởi vì làm hài lòng những người yếu đau thì thường vất vả và mệt mỏi hơn.
* With no opportunity to receive the religious message, the most upright and intelligent spirit is in fact nothing but a bee locked up in a bottle.
* Các nữ tu chăm sóc cho hàng ngàn, hàng ngàn người phong hủi. Các nữ tu của chúng tôi tắm rửa cho những người phong mình đầy những vết thương, vì họ là những vết thương của Chúa Giêsu. Chính ở nơi đó mang chúng ta cảm nhận được Ngài. Một ngày kia, một nữ tu của chúng tôi rửa những vết loét hôi thối của một bệnh nhân phong một cách rất tận tình và cẩn thận. Có một giáo sĩ Hồi giáo đã có mặt ở đó và nhìn xem công việc của chị. Ông ta nói: “Trong suốt những năm qua, tôi đã tin rằng Đức Giêsu Kitô là một vị ngôn sứ. Nhưng hôm nay tôi tin rằng Ngài là Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa mới có thể cho chị nữ tu này niềm vui như vậy khi làm công việc nặng nhọc này với lòng âu yếm như thế.”
* Một ngày kia, chúng tôi gặp và đưa một người đàn ông ở ngoài đường về nhà, ông có vẻ như là một người rất khá giả. Ông ta hoàn toàn say rượu. Ông không thể tự mình đứng lên được nữa vì đã uống quá nhiều !
Chúng tôi đưa ông về nhà. Các sisters đã chăm sóc và đối đãi với ông ta thật ân cần và tử tế. Sau hai tuần, ông ta nói với các sisters: “Các soeurs thân mến, bây giờ tâm hồn tôi đã được mở ra. Nhờ các soeurs mà tôi nhận ra Thiên Chúa vẫn thương mến tôi. Tôi cảm nhận rất rõ lòng thương yêu dịu dàng của Ngài dành cho tôi. Tôi muốn trở về với gia đình.” Và chúng tôi đã giúp cho ông về nhà.
Một tháng sau, ông ta trở lại và gửi tặng các sisters ngân phiếu đầu tiên của ông. Ông nói với các sisters: “Xin các soeurs hãy làm cho những người khác điều mà các soeurs đã làm cho tôi.” Và ông đã ra về trong phong cách của một người hoàn toàn mới.
Tình yêu đã mang ông ta trở lại với gia đình, với sự thương mến của con cái, và với tình yêu hiểu biết và cảm thông của người vợ.
Chúng ta hãy xin Đức Mẹ dạy chúng ta cách thương mến mọi người và lòng can đảm để chia sẻ tình yêu cho người khác.
* Tại Ấn Độ, có vài công chức nhà nước đã hỏi Mẹ: “Mẹ không muốn chúng tôi trở thành những người công giáo sao ?” Mẹ trả lời: “Theo tính tự nhiên, Mẹ cũng muốn trao tặng các con kho tàng mà Mẹ đang có, nhưng Mẹ không thể. Mẹ chỉ có thể cầu nguyện để các con có đủ can đảm đón nhận niềm tin ấy.” Đức tin là một quà tặng của Thiên Chúa.
* Khi các nữ tu của Mẹ đang ở Ceylon, một viên chức chính phủ đã nói với Mẹ một điều rất đáng ngạc nhiên. Ông ta nói: “Mẹ biết không, thưa Mẹ Teresa, tôi rất thích Đức Kitô nhưng tôi lại ghét những người công giáo.” Vì vậy Mẹ hỏi ông ta làm sao lại như thế được. Ông trả lời: “Bởi vì những người công giáo không đưa đến cho chúng tôi Đức Kitô, họ không sống đúng với đời sống đích thực của người Kitô hữu.” Gandhi cũng đã nói những điều tương tự như vậy: “Nếu những người Công giáo sống đúng với đời sống của họ, thì ở nước Ấn Độ sẽ không còn một người nào theo đạo Hindu.” Và điều đó không đúng sao ? Tình yêu của Đức Ki tô phải luôn thúc giục chúng ta không ngừng xả thân để làm chứng tá.
* Chính Thiên Chúa cũng không thể ép buộc bất cứ ai không muốn Ngài. Đức tin là một quà tặng. Chúng ta không được làm cho một người Hindu phải bẽ mặt khi nói rằng: “Vì một chút thức ăn là bạn sẽ bỏ tín ngưỡng của bạn”. Đạo công giáo là một thực tại sống động. Đó là một sự kiếm tìm, và chúng ta phải ao ước nó và phải tìm kiếm Thiên Chúa.
* Mới đây, một người Brazin có chức quyền đã viết cho Mẹ rằng anh ta đã mất lòng tin vào Thiên Chúa và mọi người. Anh ta đã từ bỏ địa vị sang trọng và mọi sự, và chỉ muốn tự vẫn. Một ngày kia, khi đi ngang qua một cửa tiệm, bất thần anh nhìn lên màn hình tivi đang để trên của sổ. Trên tivi đang chiếu cảnh ngôi nhà Nirmal Hriday, có các nữ tu đang tất bật chăm sóc cho những người bệnh tật và hấp hối. Anh ta đã viết cho Mẹ rằng sau khi xem thấy cảnh đó, lần đầu tiên sau bao năm hờ hững, anh ta đã quỳ gối xuống và cầu nguyện. Giờ đây anh đã quyết định quay về với Chúa và tin vào sự nồng ấm của tình người bởi vì anh ta đã nhìn thấy Thiên Chúa vẫn đang yêu thương thế giới này.
CHƯƠNG SÁU
MẸ ĐƯỢC CHÚC PHÚC GIỮA CÁC NGƯỜI PHỤ NỮ
Trong chương đầu tiên của tin Mừng Thánh Luca, chúng ta đã đọc thấy một câu chuyện thật đẹp về một thiên thần và một người thiếu nữ. Thiên thần Gabrien, theo thánh ý của Thiên Chúa, đã đến với một trinh nữ tên là Maria. “Đến bên thiếu nữ, ngài nói: ‘Mừng vui lên, hỡi đấng đầy ân sủng ! Thiên Chúa ở cùng bà.’
“khi thấy Maria bối rối, Gabrien liền nói: ‘Maria, xin đừng sợ, vì bà được nghĩa cùng Thiên Chúa. Này đây, bà sẽ thụ thai và sinh một Con Trai, và bà sẽ đặt tên cho con trẻ là Giêsu.’
“Nhưng Maria nói với thiên thần: ‘Việc đó xảy đến thế nào, vì tôi không biết đến người nam ?’ Và thiên thần đáp lại: ‘Chúa Thánh Thần sẽ đến với bà, và uy quyền của Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà. Vì thế Đấng bà sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa.’
“Và Maria liền thưa: ‘Này tôi là tôi tá Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền.’ Ngay lập tức, Maria liền đi thăm người chị họ Êlizabeth, người đang mang thai Gioan Tẩy Giả. “Khi bà Êlizabeth nghe Đức Maria chào, thì hài nhi liền nhảy mừng trong lòng bà, và bà Êlizabeth được đầy Chúa Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng rằng: ‘Em được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và đứa con em đang cưu mang cũng thật là có phúc … Phúc cho em là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng em sẽ được thực hiện.’”
Câu chuyện Kinh Thánh này là nền tảng của lời kinh đã có từ ngàn năm: kinh Kính Mừng. Đó là lời cầu nguyện chính yếu của chuỗi Mân Côi mà Mẹ Teresa và các chị em đồng hành với Mẹ thường đọc khi họ bộ hành trên những con đường gồ ghề nghèo khổ. Mẹ Teresa có lòng yêu mến Đức Trinh Nữ Maria rất sâu sắc, và Mẹ thường nói nhiều về lời đáp trả đầy vâng phục của Đức Mẹ với sứ thần Gabrien.
Kính mừng Maria đầy ơn phúc ! Đức Chúa Trời ở cùng Mẹ;
Mẹ có phúc lạ hơn mọi người nữ,
và Giêsu con lòng Mẹ gồm phúc lạ.
Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời,
cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
KÍnh mừng Maria đầy ơn phúc ! Đức Chúa Trời ở cùng Mẹ …
Cách đây đã nhiều năm, một thiên thần đã đén mang tin vui cho Maria. Hoàng tử Bình An đã nóng lòng ngự đến trên trái đất, và một thiên thần đã được sai đi loan tin mừng rằng Đấng Tạo Hóa muốn trở nên một em nhỏ. Hoàng tử Bình an đã bị lôi cuốn trước một thiếu nữ, một thiếu nữ vô danh tiểu tốt trước mắt mọi người. Thậm chí thiên thần cũng không hiểu tại sao mình lại được sai đến với một thụ tạo như vậy. Nhưng thiếu nữ ấy lại xinh đẹp đến nỗi Vua muôn vua đã muốn trở nên xác thịt trong lòng cô. Cô đầy ơn sủng, đầy trinh khiết, và đầy tràn Thiên Chúa. Cô thiếu nữ nhìn thiên thần – chắc có lẽ cô phải ngạc nhiên lắm vì chưa bao giờ cô nhìn thấy thiên thần – cô nhìn ngài và hỏi: “Sao cơ ? Ngài vừa nói gì ? Tôi không hiểu điều ngài vừa nói, điều đó không có ý nghĩa với tôi cả.” Và thiên thần đã trả lời đơn giản rằng, bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, Đức Kitô sẽ ngự xuống trong lòng cô. Và Maria đã đáp lời: “Này tôi là tôi tá Chúa.”
* Không có ai đã học được sự khiêm nhường như Mẹ Maria đã học. Mẹ, tôi tớ của Thiên Chúa, đã để mình hoàn toàn trống rỗng, và Thiên Chúa đã làm cho Mẹ đầy tràn ơn sủng. “Đầy ơn sủng” nghĩa là đầy tràn Thiên Chúa. Một người nữ tì thì luôn ở trong sự sẵn sàng cho người khác, để người đó xử dụng theo ý muốn mình với niềm tin tưởng và vui sướng, để thuộc về người đó mà không giữ lại chút gì cho mình. Đây là một lý do chính cho tinh thần của Hội dòng chúng ta. Phó thác hoàn toàn: luôn trong trạng thái sắn sàng cho Thiên Chúa, để được sử dụng theo như ý thích của Ngài, trở nên nữ tì của Ngài, thuộc về Ngài.
* Mẹ sẽ dạy chúng ta sự khiêm nhường của Mẹ: cho dẫu đầy ân sủng- nhưng Mẹ chỉ coi mình là tì nữ của Thiên Chúa; cho dẫu là Mẹ Thiên Chúa- nhưng Mẹ đã sống và phục vụ như một người tôi tớ trong gia đình bà Êlizabeth; cho dù được chịu thai cách mầu nhiệm- nhưng Mẹ đã chứng kiến Chúa Giêsu con Mẹ bị nhục mạ, bị khinh bỉ, vác thập giá nặng, và dưới chân thập giá Mẹ cũng đứng đó như một người trong chúng ta, như thể Mẹ là một tội nhân cần đến ơn cứu độ.
Giống như Mẹ, nếu chúng ta càng nhận nhiều ơn sủng của Thiên Chúa, chúng ta càng phải trở nên dịu dàng, tế nhị hơn khi đụng chạm đến những người đau khổ, người bị bệnh phong, những người hấp hối, cô đơn và bị bỏ rơi.
Giống như Mẹ, chúng ta hãy luôn sẵn sàng đón nhận những thánh giá trong cuộc sống hằng ngày dưới bất cứ hình thức nào. Ôi sự khiêm nhượng của trái tim Vẹn Sạch Đức Mẹ Maria, xin hãy ngự trị tâm hồn con. Xin hãy dạy con như ngày xưa Mẹ đã dạy dỗ Chúa Giêsu sống hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, và như vậy chúng con sẽ làm vinh danh Cha trên trời.
* Chúng ta đã đọc thấy trong Phúc Âm rằng Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người. Người đã ban cho Con của Người một người phụ nữ trẻ trung, đơn sơ và bình dị. Mẹ là một thụ tạo thánh thiện và tinh tuyền nhất. Vfa khi đón nhận Chúa Giêsu- dù Mẹ đã biết ngài là ai- Mẹ chỉ nói: “Này tôi đây là người nữ tì của Chúa. Xin hãy làm cho tôi như lời sứ thần truyền.” Lời đó là lời gì ? Thưa, “Làm mẹ Chúa Giêsu” Và đó là lý do tại sao Mẹ luôn nói rằng, trên thế giới này không một linh mục nào thánh thiện hơn Mẹ Maria- Mẹ là đấng trinh khiết nhất. Tuy nhiên Mẹ vẫn sống như một người nô tỳ của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã không phong thánh cho Mẹ.
* Các con hãy xem Đức Mẹ đã vâng lời sứ thần như thế nào: “Xin hãy làm cho tôi như lời ngài truyền” Lời của ai ? Lời của thiên thần- vì ngài thay mặt Thiên Chúa. Ngài đã được Thiên Chúa sai đến với Mẹ. Còn Mẹ, nữ vương cả thiên đàng, đã vâng lời một thiên thần. Các con hãy xem Mẹ đã vâng lời Thánh Giuse như thế nào, với tình yêu mến và tùng phục ra làm sao, không một chút biện bạch hay giải thích. Đối với Mẹ, Thánh Giuse là ‘người’ phải lãnh những trách nhiệm như thế.
* Mùa Vọng giống như mùa xuân của thiên nhiên, nó làm cho mọi vật đều được đổi mới, trở nên thật mát mẻ và khỏe mạnh. Mùa vọng đối với chúng ta cũng có nghĩa như vậy- mùa vọng làm chúng ta dịu lại và khỏe mạnh, để có thể đón nhận Đức Kitô dưới bất cứ hình thức nào. Vào ngày lễ Giáng Sinh, Ngài đến với chúng ta như một bé thơ, thật bé nhỏ, không có ai giúp đỡ, hoàn toàn cậy dựa vào người mẹ và tất cả những gì mà tình yêu của một người mẹ có thể làm được. Chính sự khiêm hạ của Mẹ Ngài đã giúp cho Mẹ làm những công việc của một người tôi tá đối với Đức Kit ô- Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Chúng ta hãy chiêm ngắm và hãy chạm đến sự cao cả trong sự khiêm nhường thẳm sâu của các Ngài. Chúng ta không thể nào khiêm nhường hơn Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Nếu chúng ta thực sự muốn Thiên Chúa tràn ngập tâm hồn chúng ta, chúng ta phải dốc hết con người của mình ra, trở nên hoàn toàn trống rỗng qua sự tự hạ trong tất cả những gì là ích kỷ trong con người chúng ta.
* Chúng ta hãy xin Đức Mẹ làm cho tâm hồn chúng ta nên “hiền lành và khiêm nhường” như tâm hồn của Con Mẹ. Chính từ nơi Mẹ và trong Mẹ mà trái tim của Chúa Giêsu đã được hình thành. Tất cả chúng ta hãy cố gắng hết mình để thực hành sự khiêm nhường và hiền lành. Chúng ta học khiêm nhường qua việc đón nhận những sự bạc đãi và nhục mạ một cách vui vẻ. Và đừng để một cơ hội nào qua đi vô ích. Người ta thường rất dễ tự hào, nóng nảy, buồn rầu và ích kỷ, thật quá dễ dàng. Nhưng chúng ta đã được tạo dựng cho những điều lớn lao hơn; tại sao chúng ta lại đầu hàng trước những điều làm xấu đi vẻ đẹp của tâm hồn chúng ta ? Chúng ta đã học được biết bao điều nơi Đức Mẹ ! Mẹ thật quá đỗi khiêm nhường bởi vì Mẹ là tất cả cho Thiên Chúa. Mẹ đầy ân sủng. Mẹ đã biết dùng năng lực vô biên trong tâm hồn Mẹ, đó là ân sủng của Thiên Chúa.
* Chúng ta hãy để Mẹ Maria trở nên nguyên nhân niềm vui của chúng ta. Và mỗi chúng ta hãy trở nên một Chúa Giêsu với Mẹ. Không có ai đã học được sự khiêm nhường như Mẹ. Mẹ đã trở nên như một nô tì. Một người nô lệ có nghĩa là được người khác sử dụng với niềm vui.
Chính niềm vui là sức mạnh của Đức Mẹ. Chỉ có niềm vui mới cho Mẹ sức mạnh để ri đi không mệt mỏi, băng qua vùng đồi núi Giuđêa để làm công việc giúp việc của người ăn kẻ ở. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng phải ra đi không ngừng và phải vượt qua những vùng đồi núi nghi nan và thử thách.
* Khi các con nhìn vào bên trong những vật dụng bằng điện, các con thường thấy những sợi dây điện nhỏ hoặc to, có dây cũ có dây mới … những vật dụng này sẽ không sáng cho tới khi có một dòng điện chạy qua.
Dây điện đó chính là các con và Mẹ. Dòng điện là Thiên Chúa. Chúng ta có sức mạnh để cho dòng điện chạy qua chúng ta, sử dụng chúng ta, và làm sản sinh ánh sáng cho thế giới này- là Chúa Giêsu. Hoặc chúng ta cũng có thể từ chối không để cho dòng điện sử dụng chúng ta và để cho bóng tối lan tràn thế giới này.
Đức Mẹ là dây điện tuyệt vời nhất. Mẹ đã để cho Thiên Chúa chiếm ngự tâm hồn Mẹ. Nhờ sự phó thác hoàn toàn của Mẹ- “Xin hãy làm cho tôi như lời thiên thần truyền” – mà Mẹ đã trở nên “đầy ơn sủng”. Chính giây phút Mẹ được tràn đầy dòng điện là ân sủng của Thiên Chúa, Mẹ đã vội vã ra đi đến nhà của chị họ Êlizabeth để kết nối dây điện Gioan với dòng điện Chúa Giêsu. Thế là mẹ ngài đã kêu lên: “khi vừa nghe tiếng em chào, đứa con trong lòng chị đã nhảy lên vui sướng”
Chúng ta hãy xin Đức Mẹ đi vào trong cuộc sống chúng ta và làm cho dòng điện là cHúa Giêsu dùng chúng ta đi đến khắp nơi trên thế giới – nhất là trong các cộng đoàn của chúng ta để chúng ta tiếp tục nối kết những dây điện là tâm hồn mọi người trên thế giới này với dòng điện là Chúa Giêsu.
…. Mẹ được chúc phúc hơn mọi người nữ …
* Thinh lặng trong tâm trí và trong trái tim: Đức Mẹ đã: “giữ những điều ấy trong lòng”. Thinh lặng đã mang Mẹ đến gần Thiên Chúa hơn, vì thế Mẹ đã không bao giờ hối hận về một điều gì. Các con hãy xem Mẹ đã làm gì khi Thánh Giuse bối rối. Chỉ cần một lời Mẹ đã có thể giải thích điều đang xảy ra trong Mẹ; nhưng Mẹ đã không nói một lời nào, và Thiên Chúa đã thực hiện phép lạ để thanh minh cho Mẹ. Ước mong sao chúng ta cũng được xác tín về sự cần thiết của thinh lặng ! Mẹ nghĩ rằng con đường để kết hợp mật thiết với Chúa sẽ trở nên dễ dàng và chắc chắn.
* Đức Mẹ- người phụ nữ xinh đẹp nhất giữa muôn người phụ nữ- người phụ nữ khiêm nhường nhất, trinh khiết và thánh thiện nhất- trong giây phút được ngập tràn ân sủng, đã chạy đi trong vội vã.
Mẹ nghĩ rằng đây là lý do tại sao Thiên Chúa đã chọn một người phụ nữ để bày tỏ tình yêu và lòng thương xót của Người cho thế giới. Chính người phụ nữ đó đã minh chứng lòng ân cần tử tế của mình khi ngay lập tức chia sẻ điều mà mình vừa nhận lãnh. Nói cách khác, Mẹ đã vội vã chia sẻ Mình Thánh Chúa.
Thánh Teresa Hài Đồng lần kia đã nói: “Con muốn mình ở trái tim của Giáo Hội để dâng trọn tình yêu.” Các con và Mẹ, chúng ta đã đươc tạo dựng cho cùng một cùng đích: để yêu và cho tình yêu ấy, như Đức Maria đã làm ở khắp nơi và trong mọi lúc.
Chúng ta cũng phải đi tìm kiếm con cái của chúng ta. Chúng ta phải lo vì không biết con cái hcungs ta hiện giờ đang ở đâu. Vì cân nhà của chúng ta sẽ không phải là cân nhà nếu không có con cái. Chúng ta cũng khám phá một Đức Maria thực sự, đầy lòng âu yếm và tế nhị, tại tiệc cưới Cana. Mẹ đã thực sự xúc động khi thấy đôi tân hôn sắp chịu bẽ mặt xấu hổ vì thiếu rượu. Đó là lý do tại sao Mẹ đã nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi.”
Mẹ nghĩ rằng đây là sự nhạy cảm tuyệt vời của trái tim người phụ nữ: đó là ý thức được sự thiếu thốn, đau khổ của người khác và giúp họ ra khỏi sự đau khổ thiếu thốn đó, như chính Đức Maria đã làm. Các con và Mẹ, chúng ta đã có được sự nhạy cảm tế nhị giống thế chưa ? Chúng ta có cái nhìn của Đức Mẹ để khám phá ra những nhu cầu của người khác không ?
Có thể là trong chính gia đình chúng ta: chúng ta có nhận ra nhu cầu của cha mẹ chúng ta, của chồng, của vợ, và của con cái chúng ta không ?Con cái chúng ta có về nhà với chúng ta không, như Chúa Giêsu đã về nhà với Đức Maria, Mẹ Ngài không ? Chúng ta có tạo cho con cái chúng ta một gia đình êm ấm không ?
Chúng ta biết điều đã xảy ra cho Đức Mẹ, người mẹ đầy tình thương mến và dịu dàng, Mẹ không bao giờ xấu hổ khi tuyên xưng Chúa Giêsu, Con Mẹ. Thực tế là cuối cùng mọi người đều bỏ rơi Ngài. Nhưng Mẹ Maria đã ở lại bên cạnh Ngài.
Mẹ Maria đã không xấu hổ khi Chúa Giêsu chịu oằn lưng, bị người khác nhổ nước miếng trên mặt, bị người đời đối xử như một người phong hủi, bị khinh miệt, coi thường, và bị mọi người ghét bỏ. Bởi vì Ngài là Giêsu, Con của Mẹ. Chính ở nơi đây đã phác họa lên lòng âu yếm dịu dàng nhất của trái tim Mẹ Maria như trái tim một người mẹ.
Chúng ta có biết cách bở bên những người thân của chúng ta trong những đau khổ, những thất bại nhục nhã của họ không ? Khi chồng của chúng ta bị mất việc, what do we represent to him ? Do we feel tenderness toward him ? Do we understand his anguish ?
Khi con cái chúng ta bị đẩy ra ngoài đường và bị những kẻ xấu rủ rê, xúi giục, chúng ta có cảm thấy tình thương thắm thiết thúc giục chúng ta đi theo chúng để lôi kéo chúng về với chúng ta không, để đón đợi chúng về nhà không, và yêu thương chúng hết lòng chúng ta không ?
Tôi có giống Mẹ Maria đối với các chị em trong cộng đoàn của tôi không ? Tôi có nhận ra những đau khổ và nõi buồn của họ không ?
Nếu tôi là một linh mục, tôi có trái tim như trái tim Mẹ Maria không ? Tôi có kinh nghiệm về sự êm đềm ngọt ngào khi được tha thứ không ? Tôi có thể trao tặng sự tha thứ của Chúa cho người tội lỗi đang khiêm nhường đứng trước mặt tôi không ?
* Người ta rất thích nhìn các nữ tu đi đường với Đức Maria. Với chuỗi Mân Côi trên tay, họ luôn luôn sắn sàng loan báo Tin Mừng khắp nơi.
* Qua tất cả những công việc mà chúng ta làm cho Chúa Giêsu, với Chúa Giêsu, và vì Chúa Giêsu, chúng ta sẽ xin Ngài làm cho tình yêu của chúng ta đối với Mẹ Ngài thêm đậm đà hơn nữa, làm sao cho tình yêu ấy trở nên mỗi ngày một riêng tư và khắng khít hơn, để chúng ta có thể yêu Mẹ như Ngài đã yêu Mẹ Ngài, để chúng ta nên như niềm vui cho Mẹ như Ngài đã là niềm vui của Mẹ; để gần gũi với Mẹ như Ngài đã gần gũi ; và để chia sẻ với Mẹ mọi sự, ngay cả thánh giá, như Ngài đã làm khi Mẹ đứng gần Ngài trên đồi Can-vê.
* Trong mùa ân phúc này, một cách đặch biệt, chúng ta hãy xin Đức Mẹ dạy chúng ta sự thinh lặng của Me, cũng như sự ân cần và lòng khiêm hạ của Mẹ.
Hỡi sự thinh lặng của Mẹ Maria xin hãy nói với con, xin hãy dạy con biết cách giữ mọi sự trong lòng như Mẹ đã làm, xin Mẹ dạy con không nói lại khi bị kết tội hoặc bị sửa sai, biết luôn cầu nguyện trong thinh lặng của tâm hồn như mẹ đã cầu nguyện.
… và Giêsu, Con lòng Mẹ gồm phúc lạ …
* Đối với những tu sĩ chúng ta, một tình yêu sâu sắc với Đức Mẹ là điều thật quan trọng, rất quan trọng. vì Mẹ là người đã dạy Chúa Giêsu bé thơ biết cách đi đứng, cầu nguyện, biết cách tắm rửa và làm những chuyện lặt vặt dễ thương khác của đời sống con người. Mẹ đã phải làm điều đó. Và tương tự như vậy, Mẹ cũng luôn sắn sàng giúp đỡ và dạy chúng ta cách trở nên tất cả cho một mình Chúa Giêsu, chỉ yêu một mình Chúa Giêsu, làm sao để đụng chạm và nhìn thấy Ngài, và phục vụ Ngài trong những con người khổ đau, bất hạnh.
* Ơn gọi của chúng ta là thuộc về Chúa Giêsu. con đường đơn giản và dễ dàng nhất để được thuộc về Ngài đó là: chính Chúa Thánh Thần sẽ làm cho chúng ta thực thi được sự từ bỏ chính mình, phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa, không chút suy nghĩ hay tính toán hơn thiệt. Chúng ta gọi đó là ‘sự phó thác mù tôi’. Giống như Mẹ Maria: khi mẹ biết Thiên Chua sddang gọi Mẹ, Mẹ đã thưa Xin Vâng. Và Mẹ không bao giờ lấy lại tiếng xin Vâng đó. Đó là tiếng thưa Xin vâng liên lỉ và mù tối trong suốt cuộc đời Mẹ. Đối với chúng ta cũng vậy. Cả cuộc đời của chúng ta phải là một lời Xin vâng. Xin Vâng trước thánh ý Thiên Chúa, đó là sự thánh thiện. Chúng ta hãy để cho Chúa lấy đi những gì Ngài muốn nơi chúng ta, và chúng ta hãy đón nhận tất cả mọi sự Ngài gửi đến với niềm vui. Đó là tiếng Xin Vâng trong hành động.
* Bởi vì Thiên Chúa yêu thương thế gian, Ngài sai Con Một của Ngài. Giờ đây, Ngài sai các con hãy trở nên lời của Ngài, và lời đó phải đi vào máu thịt trong tâm hồn mọi người. Đó là lý do tại sao các con cần đến Đức Mẹ; KHi Lời của Thiên Chúa ngự đến với Mẹ, trở nên máu thịt trong lòng Mẹ, thì Mẹ đã trao ban lời ấy cho người khác. Với các con cũng vậy. Lời của tHiên Chúa đã đến với các con và đã trở thành máu thịt trong các con, và vì thế các con phải trao ban tình yêu ấy.
* Mẹ Maria trong mầu nhiệm TRuyền Tin và thăm Viếng chính là một mẫu gương hết sức sống động cho cách sống của mỗi người chúng ta, vì trước hết Mẹ đã đón nhận Chúa Giêsu vào cuộc đời của Mẹ, sau đó Mẹ đã vội vã trao ban Chúa Giêsu cho gia đình chị họ Êlizabeth; điều mà Mẹ đã lãnh nhận thì Mẹ phải trao ban. Các con cũng phải giống như vậy, phải vội vã trao ban lời mà các con đã nhận được trong việc nguyện gẫm. Trong phép Bí tích Thánh Thể rất thánh, Chúa Giêsu Ngôi Lời đã trở nên máu thịt, đó là một quà tặng hết sức đặc biệt, lớn lao và tế nhị cho cuộc sống của từng người chúng ta. Nhưng các con phải bảo vệ món quà này với sự cản thận và quí trọng vì Ngài đã trao ban chính thân mình cho các con để trở nên máu thị cho từng người chúng con, và cho những người sẽ đến sau chúng con.
* Mẹ tin rằng mẹ Giáo Hôi đã làm đưa nữ giới lên bậc danh dự cao quí khi tuyên phong Mẹ Maria là mẹ của Giáo Hội. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình. Đây là Thánh Thể đầu tiên: quà tặng của Con Ngài khi Ngài ban cho Đức Mẹ Con của Ngài, thiết lập trong lòng Mẹ bàn thờ đầu tiên. Từ giây phút đó, Mẹ Maria đã trở thành người duy nhất khẳng định với sự thành thật hoàn toàn rằng: “Đây là mình tôi”. Mẹ đã hiến dâng thân xác, sức lực, và cả con người của Mẹ để hình thành nên thân thể Chúa Kitô.
Chính trong Mẹ mà Chúa Thánh Thần đã ngự lại, và cũng trong Mẹ mà Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Mẹ Maria đã hoàn toàn trao hiến cho Thiên Chúa bởi vì từ thủa ấu thơ Mẹ đã dâng hiến chính mình cho Ngài, để gìn giữ sự trinh bạch của Mẹ được trinh tiết, lòng trong sạch của Mẹ dược trong sáng để hiến dâng chỉ cho Thiên Chúa hằng sống duy nhất.
Khi thiên thần báo cho Mẹ rằng Đức Kitô sẽ đến, Mẹ chỉ đặt vấn nạn rằng Mẹ không thể hiểu được vì Mẹ đã khấn giữ mình trinh bạch cho Thiên Chúa. Thiên thần đã giải thích điều đó, và Mẹ đã hiểu ngay lập tức. Đôi môi của Mẹ đã thốt lên một lời đáp trả tuyệt diệu khẳng định rằng Mẹ chỉ như một người phụ nữ: “Này tôi đây là tôi tá Chúa, Xin hãy thực hiện cho tôi như lời ngài.”
* Mẹ Maria đã không cảm thấy xấu hổ. Mẹ đã tuyên xưng Chúa Giêsu Con Mẹ. Trên đồi Can-vê, chúng ta nhìn thấy Mẹ đứng đó- mẹ của Thiên Chúa, đang đứng gần thập giá.
Phải có một đức tin thật sâu xa và vững vàng, Mẹ mới có một tình yêu như thế đối với Con của Mẹ ! Khi nhìn thấy ngài bị lăng nhục, không có ai yêu thương, là bia cho mọi sự thù ghét, cay đắng. Thế mà, Mẹ vẫn đứng đó.
Như người Mẹ sở hữu đứa con mình, Mẹ Maria cũng sở hữu Con của Mẹ. Mẹ biết rằng Ngài thuộc về Mẹ nhưng đồng thời cũng là người chủ thực sự của Mẹ. Mẹ không sợ đón nhận Ngài như sở hữu của Mẹ.
Chúng ta có xem những người thân của chúng ta như những người thuộc về chúng ta khi họ bị đau khổ, bị sa thải không ? chúng ta có hiểu biết những người thân của chúng ta khi họ đau khổ không ? Chúng ta có nhận ra họ đang đói khát Chúa Giêsu khi họ cảm thấy khao khát một tình yêu hiểu biết và cảm thông với họ không ?
Đây là nguồn của sự cao cả của Mẹ Maria : tình yêu hiểu biết và cảm thông của Mẹ. Các con và Mẹ, chúng ta là những người nữ, chúng ta có sở hữu điều tuyệt vời và to lớn là tình yêu đầy hiểu biết và cảm thông đó không ?
Và đây là tình yêu mà Mẹ đã quan sát với sự kinh ngạc nơi những người của chúng ta, những người phụ nữ nghèo ngày lại ngày khám phá những đau khổ mới và đã đón nhận tất cả vì tình yêu của họ dành cho con cái. Mẹ đã nhìn thấy rấ nhiều người cha và người mek đã chấp nhận bị tước đi rất nhiều, rất nhiều thứ - ngay cả đi ăn xin- để con cái họ có những thứ cần thiết. Mẹ đã nhìn thấy những người cha ôm ấp, ắm bế đứa con tật nguyền trong cánh tay của mình hết sức âu yếm, bởi vì những đứa trẻ đó là con của họ. Mẹ cũng đã nhìn thấy những người mẹ dịu dàng đầy thương mến như thế nào với con cái của họ.
Mẹ còn nhớ một người mẹ có mười hai đứa con, đứa con cuối cùng bị dị tật thật kinh khủng. Sự thật, Mẹ không thể diễn tả được sự xấu xí tội nghiệp của em. Mẹ đã tình nguyện đón đứa bé vào nhà trẻ của hội dòng Mẹ, nơi có những em cùng trong hoàn cảnh đáng thương như thế. Nhưng người phụ nhữ nọ bắt đầu la lên: “For God’s sake, mother, xin Mẹ đừng nói với con điều ấy.Con bé chính là ân huệ lớn lao nhất mà Thiên Chúa đã gửi đến cho con và gia đình con. Tất cả mọi người trong nhà đều yêu thương bé. Chúng con sẽ chẳng còn gì nếu Mẹ đưa con bé ra khỏi đây.”
Tình yêu của người mẹ đó thực sự là tình yêu đầy cảm thông và thương mến. Ngày nay, chúng ta có được một tình yêu như thế không ? Chúng ta có nhận ra rằng con cái chúng ta, chồng của chúng ta, vợ chúng ta, cha mẹ hay anh chị em trong gia đình chúng ta đang cần một sự cảm thông, hiểu biết, và một vòng tay ấm áp của chúng ta không ?
* Mẹ mong ước các con có được niềm vui của Đức Trinh Nữ, tự trong tâm hồn Đức Mẹ đã sống thật khiêm nhường, hiền hậu, nên Ngài đã có thể giữ lấy Chúa Giêsu trong lòng mình trong suốt chín tháng. Thật là một cuộc trò chuyện thân mật lâu biết bao !
Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời,
cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay ….
* Chúng ta hãy xin Đức Mẹ làm cho tam hồn chúng ta nên “hiền lành và khiêm nhường” như tâm hồn Con yêu dấu của Mẹ. Chính từ nơi Mẹ và trong Mẹ mà trái tim của Chúa Giêsu đã được hình thành.
Chúng ta hãy xin Đức Mẹ ở với chúng ta khi chúng ta hợp nhau cầu nguyện. Lời cầu nguyện xin Đức Mẹ, Mẹ Chúa Giêsu, bầu cử cho chúng ta sẽ như thế này:
Lạy Mẹ Maria, xin ban cho chúng con trái tim như trái tim tinh tuyền vô tỳ vết của Mẹ. Một trái tim như trái tim của Mẹ, đầy tràn yêu thương và sự khiêm nhường; để chúng con có thể nhận lãnh Chúa Giêsu như Bánh Hằng Sống, để yêu mến Chúa như Mẹ đã mến yêu Ngài, và yêu thương giúp đỡ Ngài nơi những khuôn mặt bị ngược đãi của người đau khổ. Chúng con xin Mẹ điều đó nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
* Kinh Magnificat là lời tán tụng tạ ơn của Đức Mẹ. Đức Mẹ có thể giúp chúng ta yếu mến Chúa Giêsu cách tốt đẹp nhất; Mẹ là người có thể cho chúng ta con đường ngắn nhất để đến với Chúa Giêsu. Mẹ chính là người mà qua lời can thiệp của mình đã khiến Chúa Giêsu thực hiện phép lạ đầu tiên. Mẹ đã nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi”, và với những người phục vụ: “Hãy làm bất cứ điều gì Ngài bảo”. Chúng ta là những người phục vụ. Chúng ta hãy chạy đến với Mẹ với tình yêu và niềm cậy trông tin tưởng. chúng ta đang phục vụ Chúa Giêsu đang cải trang trong sự đau khổ của người nghèo.
* Chúng ta hãy xin Chúa Giêsu giúp chúng ta cá nhân hóa tình yêu của chúng ta đới với Đức Mẹ- để yêu Mẹ như Ngài đã yêu; để nên nguông vui của Mẹ như Ngìa đã là niềm vui của Mẹ; để gần gũi với Mẹ hơn, như Ngài đã gần gũi với Mẹ; và để chia sẻ với Mẹ mọi sự, kẻ cả thánh giá.
Mỗi người chúng ta hãy mang lấy thánh gía của mình; đó là dấu chúng ta thuộc về Đức Kitô. Chúng ta cần Mẹ Maria chia sẻ thập giá với chúng ta.
Thánh thiện không phải là một thứ sa xỉ phẩm nhưng là một bổn phận. Nếu chúng ta hoàn toàn thuộc về Đức Maria thì sự thánh thiện trở nên dễ dàng thực hiện.
Chúng ta phải biết ơn Chúa vì những cuộc hành trình nặng nhọc vất vả chúng ta đã thực hiện khi đi bộ trên các đường phố, hoặc trên xe lửa, trong máy bay, hay bằng xe đạp để tìm kiếm và cứu giúp các tâm hồn; và vì niềm vui mà chúng ta đã cố gắng tỏa lan khắp mọi nơi. Chúng ta hãy trao hiến hoàn toàn tự do cho Đức Trinh Nữ để Ngài sử dụng chúng ta.
Chúng ta hãy xin Đức Mẹ luôn đồnghanhf với chúng ta, ở bên chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ, đấng vừa là mẹ Chúa Giêsu, , tinh tuyền và xinh đẹp, vừa tràn đầy ân sủng ! Nếu Mẹ Maria ở với chúng ta, chúng ta có thể giữ Chúa Giêsu trong lòng, và như thế, chúng ta có thể yêu mến và phục vụ Ngài trong những người khốn khó nhất.
… và trong giờ lâm tử. Amen.
* Cái chết là khoảnh khắc kiên quyết nhất của đời người. Nó giống như giờ đăng quang của mỗi người chúng ta : chết trong bình an với Thiên Chúa.
* Đức Trinh Nữ luôn bảo vệ chúng ta. Mẹ là nguyên nhân niềm vui của chúng ta, và mỗi người chúng ta phải trở nên nguồn vui của Mẹ. Tập hợp bên Mẹ, sống theo gương Mẹ, cầu khấn xin Mẹ thương trợ giúp, sống hiệp nhất với Mẹ, chúng ta có thể vượt qua những khó khjawn nguy hiểm nhất không chút sợ hãi bởi vì Chúa Giêsu ở bên chúng ta và Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta: Chúa Giêsu là tình yêu của chúng ta, Ngài là sức mạnh và là nguồn ủi an của tất cả chúng ta.
* Vài giờ chết của chúng ta, chúng ta sẽ không bị xét xử trên khối lượng công việc chúng ta đã làm được, nhưng trên khối tình yêu mà chúng ta đã đặt vào khi làm những việc đó. Tình yêu ấy được nhận chìm trong sự hy sinh quên mình, và phải được cảm thấy cho đến khi đau xót.
* Cái chết, theo sự phân tích cuối cùng, là phương tiện nhanh nhất và dễ dàng nhất để trở về với Thiên Chúa; nếu chúng ta làm cho mọi người hiểu rằng chúng ta bắt nguông từ Thiên Chúa và chúng ta phải trở về với Ngài !
Mọi người đều biết rằng chúng ta không tự mình hiện hữu. Có ai đó đã tạo nên chúng ta. Và trở về với Ngài có nghĩa là đi về nhà của mình.
Chúng ta, các nữ tu, chúng ta đối diện và nhìn thấy cái chết hầu như mỗi ngày. Thật đẹp khi thấy người ta chết xứng với nhân phẩm, rạng rỡ niềm vui sướng khi đi về nơi mà họ đã xuất phát, đi về với Đấng duy nhất là Đấng yêu thương họ.
Những người sở hữu nhiều của cải, tiền bạc và giàu có thì luôn luôn bị ám ảnh về chúng. Họ nghĩ rằng điều quan trọng nhất này là làm sao để có nhiều của cải. Đó là lý do tại sao họ rất khó từ giã mọi thứ. Với người nghèo thì dễ hơn, họ thật tự do, và sự tự do này đã giúp họ lên đường trở về cùng Chúa một cách dễ dàng và hạnh phúc.
CHƯƠNG BẢY
NGÀY LẠI NGÀY
cách đây bảy trăm năm mươi năm, Thánh Richard of Chichester đã viết một lời kinh mà ngày nay nhiều người còn nhớ và đọc. Một bản nhạc cũng đã được sáng tác dựa theo lời kinh này mà suốt bảy thế kỷ qua đã trở nên nổi tiếng, đó là bản “Ngày lại ngày” của nhạc sĩ Godspell.
Sự hấp dẫn của lời cầu nguyện này phát xuất từ nhịp điệu nhẹ nhàng rất nhẹ nhàng của lời kinh, nhưng cũng hấp dẫn vì sự hiến dâng trọn vẹn cho Chúa Giêsu Kitô từ suy nghĩ (“để biết Ngài ngày càng rõ ràng hơn”), tâm hồn (“để yêu Ngài ngày càng thắm thiết hơn”) và rồi đến hành động (“để theo Ngài ngày càng sát cánh hơn”).
Sự hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa này cũng là dấu hiệu của những lời nói và cuộc đời Mẹ Teresa. Hằng ngày Mẹ và các nữ tu của Mẹ hằng tìm kiếm để hiểu biết thâm sâu hơn về Đức Kitô, bởi vì họ theo Ngài trên đường phố để phục vụ những người đau khổ và sau đó họ lại trở về nhà. Họ nhận chìm lời cầu và công việc của họ trong tình yêu.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cám ơn Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho chúng con, vì tất cả những đau thương và những lời sỉ nhục Chúa đã ban cho chúng con.Ôi, Đấng cứu Độ đầy lòng thương xót, là người bạn và người anh em chúng con, xin xho chúng con được biết Ngài nhiều hơn, yêu Ngài thắm thiết hơn, và theo Ngài sát hơn nữa, chỉ vì Ngài mà thôi.
Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cám ơn Chúa vì những ơn lành
Chúa đã ban cho chúng con …
“Các con nói Thầy là ai ?” (Mt 16,15)
Ngài là Thiên Chúa.
Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa.
Ngài được sinh ra mà không phải được tạo thành.
Ngài cùng bản thể với Chúa cha.
Ngài là Con Thiên Chúa Hằng Sống.
Ngài và Chúa Cha là một.
Ngài ở trong Chúa Cha từ nguyên thủy.
Mọi vật đều do bởi Ngài và Chúa Cha mà có.
Ngài là Con yêu dấu làm hài lòng Chúa Cha.
Ngài là Con của Đức Maria, được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần trong lòng Đức Mẹ.
Ngài được sinh ra tại Bethlem.
Ngài được Đức Mẹ bọc trong tã và đặt trong máng bò lừa đầy những cỏ.
Ngài được sưởi ấm bằng hơi thở của con lừa đã chở Đức Mẹ lúc đó đang mang thai Ngài.
Ngài là Con của Bố Giuse, người thợ mộc mà những người dân quê Nazareth biết đến.
Ngài là một người bình thường, không học nhiều, và đã bị những người học thức Israen kết án tử.
Đối với tôi Chúa Giêsu là ai ?
Chúa Giêsu là Ngôi Lời mặc xác phàm.
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống.
Chúa Giêsu là Nạn Nhận chịu đau khổ trên Thánh giá vì tội lỗi chúng ta.
Chúa Giêsu là hiến lễ được dâng trong Thánh Lễ để đền tội cho cả thế giới và cho tội tôi.
Chúa Giêsu là Lời – để được nói.
Chúa Giêsu là sự thật – để được kể.
Chúa Giêsu là con đường để mọi người đi.
Chúa Giêsu là ánh sáng để được soi chiếu.
Chúa Giêsu là cuộc đời để được sống.
Chúa Giêsu là tình yêu để được yêu.
Chúa Giêsu là niềm vui để được chia sẻ.
Chúa Giêsu là lễ hy sinh để được dâng lên.
Chúa Giêsu là bình an để được trao tặng.
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống để được ăn.
Ngài là người đang đói – cần được cho ăn.
Ngài là người đang khát – cần được cho uống.
Ngài là người trần truồng – cần được cho mặc.
Ngài là người không nhà cửa – cần được đón tiếp.
Ngài là người đâu yếu – cần được chữa lành.
Ngài là người cô đơn – cần được yêu thưuowng.
Ngìa là người vô dụng – cần được người khác sử dụng
Ngài là người phong cùi cần được rửa vết thương.
Ngài là kẻ xin ăn – cần được khác mỉm cười.
Ngài là kẻ say rượu- cần được lắng nghe.
Ngài là người bệnh tâm thần – cần được bảo vệ.
Ngài là một trẻ nhỏ - cần được ôm hôn.
Ngài là người mù – cần được dắt qua đường.
Ngài là người câm – cần được lên tiếng.
Ngài là người què – cần có người đi bên cạnh.
CHƯƠNG MỘT
Mẹ Teresa : Một tâm hồn cầu nguyện
“Cầu nguyện là làm việc,
làm việc là cầu nguyện.”. Câu phương châm cổ xưa của thánh Bênêdictô
cũng là khẩu hiệu của Mẹ Teresa. Nổi tiếng khắp thế giới vì công
việc yêu thương phục vụ giữa những người nghèo khổ, Mẹ Teresa luôn
củng cố và hiến dâng những công việc mình làm bằng lời cầu nguyện
liên lỉ mỗi ngày.
--Có lời cầu nguyện bằng lời : đó những lời cầu nguyện ưa thích
nhất mà Mẹ thường đọc trong Thánh lễ, và với những người mộ đạo.
Có lời cầu nguyện trong thinh lặng : đó là sự chiêm ngắm Thiên Chúa
trong sự yên tĩnh của ngôi nhà nguyện mỗi buổi chiều hay trên những
khuôn mặt của những người nghèo khổ mà Mẹ gặp ban ngày. Mẹ Teresa
thường nơi với mọi người rằng : cầu nguyện liên tục chính là điều
làm nên sự khác biệt giữa những Thừa Sai Bác Ái và những người làm
công tác xã hội. Mẹ nói về hội dòng của Mẹ : “Chúng tôi là những
nhà chiêm niệm giữa lòng thế giới”.
--Chương Một là sự giới thiệu về cuộc đời và những công việc của
Mẹ, và đuợc viết ra trong khuôn khổ cầu nguyện.
NHÀ CHIÊM NIỆM GIỮA LÒNG THẾ GIỚI
-Chúng ta hãy lắng nghe Mẹ Teresa
mô tả một ngày sống của một Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô ở Calcutta.
Cuộc sống chúng tôi tập trung vào Thánh Thể và việc cầu nguyện. Chúng tôi bắt đầu ngày sống với việc tham dự Thánh lễ, Hiệp lễ và nguyện gẫm.
---Sau Thánh lễ và bữa điểm tâm, một
số các sisters đi đến nhà hấp hối, một số khác đi đến khu nhà những
người kiều dân mắc bệnh phong, một số các sisters đến các trường
học tiểu học của chúng tôi tại các khu nhà ổ chuột, một số khác nữa
điều hành việc chuẩn bị và phân phát thức ăn cho người nghèo, có
những sisters đi thăm những gia đình nghèo khó, dạy giáo lý ..
Các nữ tu của chúng tôi dường như tản ra khắp thành phố (chỉ riêng ở Calcutta , chúng tôi có năm mươi chín nhà. Nhà dành cho người hấp hối chỉ là một trong các trung tâm khác). Các sisters của chúng tôi đi khắp mọi nơi với tràng chuỗi trong tay. Đó là cách thức chúng tôi cầu nguyện trên đường đi. Chúng tôi không bao giờ đến với người khác mà không cầu nguyện. Tràng chuỗi mân Côi là sức mạnh và sự bảo vệ của chúng tôi.
----Chúng tôi luôn đi từng hai người một, và chúng tôi trở về nhà
khoảng 12:30 chúng tôi đọc kinh tưa, và giờ kinh chúng tôi ăn bữa
trưa. Sau cơm trưa chúng tôi rất thường khi phải làm việc nội trợ
trong nhà.
---Sau đó, mọi sisters phải nghỉ trưa khoảng nửa tiếng, bởi vì cả
buổi sáng họ đã đi bộ và làm việc. Sau giờ nghỉ trưa, chúng tôi có
giờ xét mình, đọc kinh Phụng vụ và đi đàng Thánh giá.
Lúc 2:00 giờ chiều chúng tôi đọc sách thiêng liêng khoảng nửa tiếng, sau đó chúng tôi uống trà.
---3:00 giờ chiều, các sisters đã khấn lại đi ra ngoài với công
việc phục vụ. (Nhà tập và Nhà thử thì ở lại nhà. Các em phải dự các
lớp thần học và Kinh thánh và các môn học khác, như nội qui và những
luật lệ của hội dòng.)
---Khoảng 6:15 hoặc 6:30 chiều, mọi người trở về nhà.
---Từ 6:30 đến 7:30 : chúng tôi có giờ chầu Thánh Thể.
---Lúc 7:30 : chúng tô ăn bữa tối.
Sau bữa tối, khoảng hai mươi phút, chúng tôi chuẩn bị công việc cho sáng ngày mai.
---Từ 8:30 đến 9:00 tối : là giờ giải trí. Mọi người được tự do
nói chuyện thoải mái, sau khi đã làm việc cả ngày.
---Lúc 9:00 : chúng tôi vào nhà nguyện để đọc kinh tối và chuẩn
bị bài nguyện gẫm cho sáng ngày hôm sau.
Mỗi tuần một lần, chúng tôi có một ngày tĩnh tâm. Ngày đó, các em tập sinh năm thứ nhất sẽ ra ngoài làm việc, vì trong cả tuần lễ các em không làm việc ở bên ngoài. Vì thế, trong ngày tĩnh tâm tất cả các sisters đã khấn đều ở nhà để tham dự việc xét mình. Trong ngày đó, chúng tôi thường lãnh bí tích giao hoà và chầu Chúa Giêsu Thánh Thể nhiều hơn những ngày khác.
Đây là thời gian chúng tôi lấy lại sức mạnh và để cho Chúa Giêsu lại chiếm ngự tràn đầy trong tâm lòng mỗi người. Đó là lý do tại sao đây là một ngày tuyệt đẹp đối với chúng tôi.
Cầu nguyện không
ngừng
"Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng" (
1 Tx 5:16-17)
---Chúng
ta phải hợp lời cầu nguyện của chúng ta với công việc. Chúng
tôi cố gắng nhấn mạnh điều này đến với các nữ tu của chúng tôi
bằng cách mời họ biến những
công việc mình làm thành lời cầu nguyện. Làm sao có thể biến
công việc của một người thành lời cầu nguyện ? Công việc không
thể thay thế cho cầu nguyện. Tuy nhiên, chúng ta có thể học cách
biến đổi công việc thành lời cầu nguyện. Chúng ta có thể làm
điều này như thế nào ? Bằng cách làm công việc đó với Chúa Giêsu
và cho Chúa Giêsu. Đó là cách thức biến công việc của chúng ta
thành những lời cầu nguyện. Có thể là tôi sẽ không thể tập trung
đầy đủ tư tưởng của tôi lên Chúa trong lúc làm việc, nhưng Chúa
không đòi tôi làm điều đó. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn có thể mơ
ước và dự định rằng công việc tôi sắp bắt tay sẽ được làm với
Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu. Điều này thật đẹp, và đó là điều
Thiên Chúa muốn. Ngài muốn những ý định và những mơ ước của chúng
ta là dành cho Ngài, cho gia đình chúng ta, cho con cái, cho
anh chị em chúng ta, và cho những người nghèo.
Chúng tôi bắt đầu ngày sống của chúng tôi bằng việc cố gắng
nhận ra Chúa Kitô trong Bánh Thánh Thể. Và trong suốt ngày chúng
tôi gần gũi và gắn bó với Ngài trong những thân thể xơ xác và tan
nát của người nghèo. Bằng cách này việc làm của chúng tôi đã trở
thành lời cầu nguyện, vì chúng tôi đã hoàn thành công việc của mình
với Chúa Giêsu, cho Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu.
---Người nghèo là lời cầu nguyện của chúng tôi. Chúng tôi mang Chúa
đến trong cuộc đời của họ. Lời cầu nguyện thì ở trong tất cả mọi
sự, ở trong tất cả mọi cử chỉ của chúng ta.
Thật ra, chỉ có một lời cầu nguyện thực sự và quan trọng nhất
: đó là chính Chúa Kitô. Chỉ có một tiếng nói vang lên, vượt trên
bề mặt trái đất này: đó là tiếng nói của Chúa Kitô. Tiếng nói hợp
nhất và bao trùm mọi tiếng nói vang lên trong cầu nguyện.
---Hãy cầu nguyện như trẻ nhỏ, với ước mơ tha thiết để yêu mến nhiều
hơn và làm cho những người không được ai yêu mến, bị bỏ rơi được
yêu mến.
Lời cầu nguyện hoàn hảo không bao gồm nhiều lời nhưng bao gồm
sự tha thiết của ước mơ khiến chúng ta nâng tâm hồn lên cùng Chúa.
Giá trị của những việc làm hoàn toàn tương ứng với giá trị của những
lời cầu nguyện mà chúng ta dâng lên Chúa, và hành động của chúng
ta chỉ thực sự hữu ích nếu chúng diễn tả chân thực ước mơ tha thiết
của chúng ta. Chúng ta phải tập trung cái nhìn của chúng ta voà Chúa
Giêsu, và nếu chúng ta cùng nhau làm việc với Chúa Giêsu chúng ta
sẽ làm tớt hơn rất nhiều. Chúng ta lo lắng và bất ổn vì chúng ta
đã cố tự mình làm công việc đó, mà không cần nhờ đến Chúa Giêsu.
Hiệp nhất là hoa trái của cầu nguyện, của khiêm nhường và của
tình yêu thương.Vì thế, nếu cộng đoàn cùng cầu nguyện với nhau thì
sẽ ở với nhau, và nếu chúng ta ở với nhau chúng ta sẽ yêu thương
nhau như chính Chúa Giêsu đã thương yêu mỗi người chúng ta. Một tâm
hồn thay đổi thực sự sẽ là một tâm hồn tràn đầy tình yêu mến.
- Hãy yêu thích cầu nguyện, hãy cảm thấy nhu cầu cần phải cầu nguyện
suốt cả ngày, và bỏ qua mọi lo lắng phiền muộn để cầu nguyện. Nếu
bạn muốn cầu nguyện tốt hơn nữa, bạn phải cầu nguyện nhiều hơn nữa.
Cầu nguyện mở rộng trái tim của chúng ta cho tới khi nó có khả năng
chứa đựng chính Thiên Chúa. Hãy xin và hãy tìm kiếm, và tâm hồn bạn
sẽ trở nên đủ lớn để đón nhận Ngài và giữ lấy Ngài như của riêng
bạn.
---Chúng ta thường rất muốn cầu nguyện với sức riêng của chúng
ta, và sau đó chúng ta thất bại. Chúng ta cảm thấy chán nản và
rồi bỏ luôn việc cầu nguyện. Thiên Chúa cho phép sự thất bại xảy
đến với chúng ta, nhưng Ngài không muốn chúng ta chán nản. Ngài
muốn chúng ta trở nên nhỏ bé hơn như trẻ nhỏ, khiêm nhường hơn
và biết ơn hơn trong khi cầu nguyện. Ngài không muốn chúng ta cố
gắng cầu nguyện một mình, vì tất cả chúng ta thuộc về Thân Thể
mầu nhiệm của Chúa Kitô, mà thân thể đó lúc nào cũng cầu nguyện.
Lúc nào cũng có những người cầu nguyện; và không có những điều
như thế này : “Tôi cầu nguyện”, nhưng là Chúa Kitô trong tôi và
Ngài với tôi cầu nguyện; vì vậy mầu nhiệm thân thể của Chúa Kitô
cầu nguyện liên lỷ.
---Cầu nguyện cách chung chung thì chưa đủ; chúng ta phải cầu
nguyện cách chân thành, với lòng sốt mến và đạo đức. Chúng ta
phải cầu nguyện kiên trì với tình yêu mến.
Lời cầu nguyện của chúng ta thường là những lời cầu nguyện tự
phát bằng lời; những lời cầu nguyện đó phải là những lời bừng
cháy phát toả ra từ lò lửa của trái tim tràn đầy tình yêu.
-- Trong
cách cầu nguyện này, chúng ta hãy nói với Thiên Chúa với lòng
kính trọng và tin tưởng ... Đừng kéo lê hay đi trước, đừng la
lớn tiếng hay yên lặng nhưng hãy cầu nguyện cách thật lòng, với
sự ngọt ngào êm ái, với sự đơn giản rất tự nhiên, không chút
giả bộ. Bạn hãy hiến dâng Thiên Chúa những lời ca ngợi với tất cả
tâm hồn và trái tim. Chúng ta phải hiểu ý nghĩa những lời kinh mà
chúng ta đọc, và phải cảm thấy hương vị ngọt ngào của từng lời kinh
để lợi dụng tối đa lợi ích của những lời kinh ấy. Thỉnh thoảng chúng
ta cũng nên suy gẫm những lời kinh này, và trong ngày sống, hãy
cố gắng tìm lấy trong những lời kinh ấy sự thanh thản yên tĩnh của
tâm hồn.
---Những lời cầu nguyện đến từ trí và lòng chúng ta cũng như
những lời cầu nguyện mà chúng ta không đọc bằng sách được gọi là
những lời tâm nguyện. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng chúng ta bị
ràng buộc vào hoàn cảnh và không ngừng hướng về sự hoàn thiện. Sự
thực hành tâm nguyện hàng ngày là điều cần thiết để đạt tới mục
đích. Bởi vì nó là hơi thở sự sống của linh hồn, nếu không thực
hành tâm nguyện thì không thể có sự thánh thiện. Thánh Teresa
Avila nói : “Ai bỏ việc thực hành tâm nguyện thì không cần phải
ma quỉ đẩy xuống hoả ngục, chính người ấy đi xuống đó với sự
bằng lòng của chính mình”. Chỉ bằng việc tâm nguyện và đọc sách
thiêng liêng mà chúng ta có thể trau dồi cho mình những ân sủng
của việc cầu nguyện. Tâm nguyện phần nhiều được duy trì bằng
sự đơn sơ, nghĩa là quên mình bằng cách ăn chay hãm mình trong
thân xác và các giác quan, và bằng những khát vọng thường xuyên
để nuôi dưỡng lời cầu nguyện. Thánh Gioan Vianê có nói : “Trong
việc thực hành tâm nguyện, hãy nhắm mắt, hãy im tiếng và hãy
mở trái tim mình ra.” Trong khẩu nguyện, chúng ta nói chuyện
tâm sự với Chúa, trong tâm nguyện Thiên Chúa nói với
chúng ta. Và chính lúc đó Thiên Chúa tuôn đổ chính Người trong
chúng ta.
---Chúng ta hãy cải thiện tinh thần cầu nguyện của chúng ta
bằng việc xét mình. Hãy để tâm trí chúng ta hoàn toàn trống rỗng
và tự do với tất cả những gì không phải là Chúa Giêsu. Nếu chúng
ta cảm thấy khó khăn trong việc cầu nguyện, hãy xin với Chúa
Giêsu và xin mãi : “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến với con, xin
hãy cầu nguyện với con và trong con, xin hãy dạy con cách cầu
nguyện.” Nếu các bạn cầu nguyện hiều hơn, các bạn sẽ cầu nguyện
tốt hơn. Hãy dùng tất cả giác quan để giúp bạn cầu nguyện.
---Chúng ta phải là những chuyên gia trong cầu nguyện. Các tông
đồ ngày xưa đã hiểu điều này rất rõ. Khi các ngài nhận thấy các
rằng ngài có thể bị cuốn hút bởi vô số những công việc, các ngài
đã quyết định tận hiến mình cho việc cầu nguyện liên lỉ và việc
phục vụ Lời Chúa. Chúng ta phải cầu nguyện thay cho những ai
không cầu nguyện.
---Đối với chúng ta, những người tu sĩ, cầu nguyện là một bổn
phận thiêng liêng và là một sứ mạng cao cả. Ý thức về tất cả
những nhu cầu và lợi ích chúng ta mang nơi bản thân chúng ta, chúng
ta sẽ tiến lên bàn thờ cầu nguyện, sẽ lần chuỗi Mân Côi, và hướng
về tất cả những việc thiêng liêng khác của chúng ta với sự khao
khát thực sự, và tin tưởng đi đến trước ngai ân sủng, để chúng
ta có thể nhận được lòng thương xót và những trợ giúp đúng lúc
cho chính chúng ta và cho các linh hồn.
---Con người đói khát Lời Thiên Chúa là Lời ban bình an, Lời
mang lại sự hiệp nhất và ban niềm vui sướng. Nhưng chúng ta không
thể cho điều mà chúng ta không có. Đó chính là lý do các bạn
cần đào sâu hơn nữa đời sống cầu nguyện của mình. Hãy để chúa
Giêsu nắm lấy bạn, hãy để Chúa Giêsu cầu với bạn và qua bạn,
và khi đó bạn sẽ trở nên một nhà chiêm niệm thưch thụ giữa lòng
thế giới.
---Chúng ta sẽ dùng những cử chỉ và cả những dáng điệu của chúng
ta trong cầu nguyện để được lớn lên trong việc cầu nguyện và
chiêm ngắm Thiên Chúa, bằng việc hiểu biết cặn kẽ những cử chỉ
này với lòng yêu mến. Vì thế, chúng ta sẽ :
- Xử dụng nước thánh với lòng yêu kính như là dấu tẩy rửa bên trong và ân sủng Chúa.
- Làm dấu Thánh giá cách trang nghiêm và xứng đáng như dấu chỉ hoàn toàn thuộc về Chúa cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, set aside hoàn toàn cho sự chiêm niệm và tình yêu mến, đã được đóng ấn để chống lại quyền lực tối tăm của xác thịt, thế gian và ma quỉ.
- Chắp tay trong cầu nguyện như dấu chỉ long kính mến sâu xa và thờ lạy Thiên Chúa.
- Quì gối với lòng sốt sắng như dấu chỉ sự thờ lạy, cầu khẩn, chuyển cầu , sự khiêm nhường và lòng sám hối.
- Đứng thẳng cầu nguyện trong các giờ kinh Phụng vụ như dấu chỉ sự tham dự và hiệp thông của cộng đoàn chúng ta với toàn thể dân Chúa trong việc thờ phượng và công khai của Giáo hội-một giáo hội lữ hàng đang tiến về nhà Cha-cũng là dấu chỉ sự chiến thắng cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, và là dấu chỉ chúng ta tôn kính Thiên Chúa, sự tỉnh thức và sẵn sàng trong mọi sự.
- Ngồi cầu nguyện với sự xét mình sâu lắng như dấu chỉ của tâm tình lắng nghe, tùng phục, thân thiết, chiêm ngắm và tin tuởng yêu thương;
- Phủ phục sát đất nhu dấu chỉ của lòng phó thác hoàn toàn.
---Chúng ta sẽ làm hết khả năng
của chúng ta để giới thiệu và cổ vũ việc cầu nguyện cá nhân cũng
như trong gia đình, việc nguyện gẫm và đọc sách thiêng liêng,
và nếu có thể chúng ta sẽ chia sẻ Lời Chúa trong Kinh thánh nơi
những gia đình mà chúng ta thăm viếng.
---Đôi khi chúng ta không nhận được những điều chúng ta tìm kiếm
trong cầu nguyện vì chúng ta không tập trung tư tưởng và trái tim
vào Đức Kitô, là Đấng mà Thiên Chúa Cha hài lòng. Thường xuyên
có một cái nhìn sốt mến và sâu lắng về Đức Kitô là cách cầu nguyện
tốt nhất.
---Lời cầu nguyện của chúng ta phải là một thức ăn nóng và thơm
ngon, được xuất phát từ một sự nồng nhiệt của một trái tim đã tràn
đầy tình yêu thương.
Nếu chúng ta muốn có khả năng yêu thương, chúng ta phải cầu nguyện ! Cầu nguyện sẽ mang lại cho chúng ta một tâm hồn trong sạch, và một tâm hồn trong sạch thì có khả năng nhìn thấy Thiên Chúa. Nếu chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa, thì ngay lập tức, tình yêu của Thiên Chúa sẽ hành động trong chúng ta. Và chúng ta cần yêu thương không phải bằng lời, nhưng bằng hành động !
---Khi chúng ta nhìn lên Thánh giá, chúng ta khám phá ra Chúa Giêsu
đã yêu thương chúng ta ra sao. Khi chúng ta nhìn vào nhà tạm, chúng
ta sẽ hiểu tình yêu của Ngài đang dành cho chúng ta như thế nào.
Và điều này thật quan trọng với chúng ta, nếu chúng ta thật sự muốn
yêu và được yêu, nếu chúng ta muốn học cầu nguyện. Chúng ta hãy dạy
cho trẻ em cầu nguyện. Chúng ta hãy cầu nguyện với chúng.
Những suy nghĩ về hoa trái của việc cầu nguyện :
---Hoa trái của cầu nguyện là đức tin. Cầu nguyện hướng dẫn chúng
ta thưa lên rằng: “Tôi tin”.
---Hoa trái của đức tin là tình yêu. Tình yêu giúp chúng ta nói
lên rằng: “Tôi yêu”. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Tình yêu làm
cho chúng ta nói: “Tôi muốn phục vụ”.
Và hoa trái của phục vụ là sự bình an.
Thỉnh thoảng có vài người hỏi tôi xem tôi có lời chỉ dẫn gì cho những nhà chính trị không. Tôi không thích dính dán đến vấn đề chính trị, nhưng câu trả lời của tôi chỉ là : “Họ nên khiêm tốn trong các giờ cầu nguyện. Tôi nghĩ điều đó sẽ giúp họ trở thành những chính khách tốt hơn.”
Mỗi khi chúng ta cần làm một quyết định liên quan đến gia đình chúng ta, chúng ta cần cầu nguyện. Chúa Giêsu nói: “Hãy xin thì anh em sẽ nhận được. Hãy tìm thì anh em sẽ thấy. Hãy gõ và cánh cửa sẽ được mở ra cho anh em” (Lc 11,9). Bạn sẽ không bị từ chối bất cử thứ gì. Hội dòng của chúng tôi (ở Calcutta) đã thực sự sống những kinh nghiệm này. Hiện nay chúng tôi phục vụ hơn một ngàn người . Một ngàn sinh mạng con người tuỳ thuộc ở chúng tôi. Cho dù như thế, nhưng chưa bao giờ, chưa bao giờ chúng tôi nói với bất cứ một người nào rằng: “Hãy đi chỗ khác. Chúng tôi không thể làm được gì để giúp đỡ ông bà”. Thiên Chúa luôn luôn ở đó để tỏ cho chúng ta thấy rằng Ngài không bao giờ yên lặng trước những lời cầunguyện của chúng ta. Và để chứng thực điều này, Thiên Chúa luôn luôn trợ giúp chúng ta, vì chúng ta còn quan trọng và giá trị hơn nhiều những bông huệ ngoài đồng.
Tôi không nghĩ rằng còn có ai đó cần sự trợ giúp và ân sủng của Thiên Chúa hơn tôi. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy bất lực và hoàn toàn yếu nhược. Và tôi nghĩ rằng đó là lý do tại sao Thiên Chúa đã chọn tôi. Bởi vì tôi không thể dựa vào sức riêng tôi, tôi lệ thuộc vào Thiên Chúa hai bốn giờ một ngày. Và nếu một ngày có hơn hai mươi bốn giờ, thì tôi cũng cần ân sủng và sự trợ giúp của Ngài cho những giờ hơn đó. Tất cả mọi người chúng ta phải gắn bó và trung thành với Thiên Chúa qua việc cầu nguyện và hy sinh.
Mẹ đã yêu thương những con người mà những người khác coi như là thứ loại bỏ, rác rưởi của xã hội. Đâu là bí mật đã cho phép Mẹ làm được điều này ?
Bí mật của tôi rất đơn giản : tôi
cầu nguyện. Qua cầu nguyện, tôi trở nên một trong tình yêu với
Đức Kitô. Tôi nhận ra rằng cầu nguyện chính là yêu mến Ngài. Điều
đó có nghĩa là tôi cảm thấy tràn đầy những giới răn của Ngài. Chúng
ta đừng bao giờ quên lời Ngài nói với chúng ta: “Khi Ta đói các
ngươi đã không cho Ta ăn” (xem Mt 25,42). Những người nghèo sống
trong những khu ổ chuột khắp nơi trên thế giới chính là chính Đức
Kitô đang đau khổ. Con Thiên Chúa đã sống và đã chết trong họ, và
qua họ Thiên Chúa tỏ cho tôi thấy gương mặt thật của Ngài. Đối với
tôi, cầu nguyện nghĩa là được kết hiệp với thánh ý của Thiên Chúa
hai mươi bốn giờ mỗi ngày, để sống cho Ngài, trong Ngài và với Ngài.
---Hoa trái các công việc của chúng tôi, cũng như những khả năng
thực hiện được phát sinh nhờ lời cầu nguyện. Công việc mà chúng tôi
đang hoàn thành là kết quả của sự hiệp nhất của chúng tôi với Chúa
Kitô. Chúng tôi đã được kêu gọi để trao ban Chúa Kitô cho mọi người
trên thế giới, để họ có thể nhìn thấy Ngài và khám phá ra tình thương
và lòng trắc ẩn của Ngài, cũng như nhận biết sự khiêm nhường vô hạn
của Ngài.
Chúa Giêsu là lời cầu nguyện của chúng ta, và Ngài cũng là lời
đáp trả cho tất cả những lời nguyện cầu của chúng ta. Ngài đã chọn
trở nên trong chúng ta bài ca tình yêu, khen ngợi, thờ lạy Thiên
Chúa Cha, chuyển cầu, và xin Cha tha tội nhân danh tất cả mọi tạo
vật, đặc biệt là những người cùng khổ và những người không cầu nguyện,
những người không biết cách cầu nguyện, những người không dám và
không muốn cầu nguyện.
---Ca hát là một phần quan trọng trong cầu nguyện. Chúng ta sẽ giữ
cho những bài hát của chúng ta đơn sơ và sử dụng nhạc cụ nhẹ khi
cần thiết.
Chúa Giêsu Kitô đã nói với chúng ta rằng: “Các con hãy cầu
nguyện luôn, đừng bao giờ chán”(Lc 18,1). Thánh Phaolô cũng nói:
“Hãy cầu nguyện không ngừng”(1Tx 5,17).Thiên Chúa đã kêu gọi tất
cả mọi người trong tâm tình này - hãy cầu nguyện luôn. Hãy để cho
tình yêu của Chúa một lần nữa chiếm đoạt trọn vẹn trái tim bạn,
và hãy cho tình yêu ấy trở nên bản tính thứ hai của bạn;
đừng để trái tim đó đau khổ về một sự gì; hãy để trái tim luôn
gia tăng tình yêu của Thiên Chúa bằng cách làm hài lòng Ngài trong
mọi sự va không từ chối ngài điều gì; Hãy để tình yêu ấy đón nhận
mọi sự xảy ra từ bàn tay yêu thương của Chúa.
---Người ta thường nói nhiều về người nghèo, nhưng họ lại không
biết và không nói chuyện với người nghèo bao giờ. Chúng ta cũng vậy,
chúng ta có thể nói rất nhiều về cầu nguyện nhưng có khi chúng ta
lại không biết cách cầu nguyện.
Liệu trí và lòng các bạn đã hướng lên Chúa Giêsu ngay khi các
bạn vừa thức giấc không ? Đó là cầu nguyện, là các bạn hướng lòng
trí lên Thiên Chúa. Trong những lúc khó khăn, trong những lúc ưu
sầu, đau khổ, khi bị cám dỗ ... và trong mọi sự , đâu là nơi lòng
trí chúng ta hướng về trước hêt ? Chúng ta đã cầu nguyện như thế
nào ? Chúng ta có để một bên những rắc rối của chúng ta để quay về
với Chúa để cầu nguyện không, hay chúng ta đã vội tìm những lời an
ủi ?
Đức tin của các bạn đã trưởng thành chưa ? Nếu không cầu nguyện,
đức tin sẽ rời bỏ các bạn.
---Hãy xin Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong bạn. Hãy học cầu nguyện,
hãy yêu thích cầu nguyện, và thường xuyên cầu nguyện. Hãy cảm thấy
nhu cầu cầu nguyện và ao ước cầu nguyện.
--Nếu các bạn đã học cách cầu nguyện, thì tôi không còn lo ngại
cho bạn nữa. Nếu bạn đã biết cầu nguyện, bạn sẽ yêu thích cầu nguyện
– và nếu bạn đã yêu thích cầu guyện, thì bạn sẽ cầu nguyện. Sự hiểu
biết sẽ dẫn đến yêu thương và yêu thương dẫn đến phục vụ.
---Nếu bạn không cầu nguyện, sự hiện diện của bạn sẽ không có năng
lực, lời nói của bạn sẽ không có năng lực. Nếu bạn cầu nguyện, bạn
sẽ có thể vượt qua được tất cả những mưu mô và lừa đảo của ma quỉ.
Đừng bao giờ tin vào những ý nghĩ mà chúng bày ra trong tâm trí bạn.
Cầu nguyện mở rộng tâm hồn chúng ta cho tới khi nó có khả năng
chứa đựng chính Chúa. Hãy cầu xin và hãy tìm kiếm, và lòng bạn sẽ
đủ rộng để đón nhận Thiên Chúa và giữ Ngài làm của riêng mình.
Hãy thực sự chân thành trong lời cầu nguyện. Bạn có biết cách
cầu nguyện không bạn có yêu thích cầu nguyện không ? Sự chân thành
không là gì cả mà là sự khiêm nhường, và bạn chỉ có thể học được
sự khiêm nhường bằng việc chấp nhận bị khinh rẻ và nhục mạ. Tất cả
những điều người ta nói về sự khiêm nhường cũng không đủ để dạy cho
bạn cách khiêm nhường. Tất cả những gì bạn đã đọc về lòng khiêm nhường
cũng không đủ để dạy cho bạn cách ở khiêm nhường. Bạn chỉ có thể
học sự khiêm nhường bằng cách chấp nhận sự nhục mạ và bị loại bỏ.
Và bạn sẽ gặp thấy sự tất cả bạc đãi này trong cuộc sống của bạn.
---Sự khiêm nhường lớn nhất đó là biết rằng bạn chẳng là gì cả.
Và điều này bạn sẽ được biết khi đối diện với Thiên Chúa trong cầu
nguyện. Khi bạn diện đối diện với Thiên Chúa, bạn chẳng thể làm được
điều gì khác ngoại trừ nhận biết rằng bạn chẳng là gì cả và bạn cũng
chẳng có gì cả. Trong thinh lặng của tâm hồn Thiên Chúa sẽ nói với
bạn. Nếu bạn ở trước Chúa trong cầu nguyện và trong thinh lặng, Thiên
Chúa sẽ lên tiếng nói với bạn. Và khi đó bạn sẽ biết rằng bạn không
là gì cả. Chỉ khi bạn nhận thức sự hư không và trống rỗng của bạn,
thì Thiên Chúa mới có thể lấp đầy tâm hồn bạn bằng chính Ngài. Cầu
nguyện là sự sống thống nhất và làm cho ta nên một với Chúa Kitô.Vì
vậy, cầu nguyện rất cần thiết như không khí, như máu trong cơ thể,
và như bất cứ thứ gì duy trì sự sống còn của chúng ta - cầu nguyện
giúp chúng ta sống trong ân sủng của Thiên Chúa.
---Chúng ta không thể tham gia vào công tác tông đồ nếu chúng
ta không phải là một tâm hồn cầu nguyện, không ý thức rõ ràng
và qui phục thánh ý Thiên Chúa. Chúng ta phải ý thức về sự hiệp
nhất của chúng ta với Đức Kitô, như Ngài đã ý thức rất rõ về
sự hiệp nhất của Ngài với Chúa Cha. Hành động của chúng ta sẽ chỉ
là công tác tông đồ thực sự bao lâu chúng ta để cho Chúa làm việc
trong và qua chúng ta - với quyền năng của Ngài, với lòng muốn và
tình yêu của Ngài. Chúng ta phải trở nên thánh thiện, không phải
vì chúng ta muốn cảm thấy mình thánh thiện, nhưng bởi vì Chúa Kitô
phải có thể sống cuộc đời của Ngài cách tràn đầy trong chúng ta.
---Hãy xem Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện như thế nào
: Hãy gọi Thiên Chúa là Cha các con; hãy ca ngợi và làm vinh
danh Ngài, hãy thi hành thánh ý của Ngài như các thánh đang làm
ở trên thiên đàng; hãy xin Cha cho lương thực hằng ngày, lương
thực thể chất cũng như tinh thần; hãy xin Cha tha thứ cho các tội
chúng con đã phạm và xin Cha ban cho các con cũng được ơn tha
thứ cho người khác; hãy xin Cha cho được ơn chống trả các chước cám
dỗ, và ơn cuối cùng là được giải thoát khỏi ma quỉ và quyền lực sự
dữ đang ở trong và ở xung quanh chúng con.
---Sự thất bại và sự mất ơn gọi cũng có khi là do chểnh mảng
việc cầu nguyện. Vì cầu nguyện là như thức ăn cho đời sống thiêng
liêng, sự chểnh mảng, bỏ bê việc cầu nguyện sẽ làm cho đời sống
tinh thần thiếu ăn và bị chết đói; và như thế việc mất ơn gọi
là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta hãy xin Đức Mẹ theo cách
thức riêng của mỗi người, xin Mẹ dạy chúng ta cầu nguyện, như xưa
Mẹ đã dạy cho Chúa Giêsu cầu nguyện trong suốt những năm khi
Ngài còn ở với Mẹ tại Nazareth.
---Bạn phải làm hết sức để tiến bước trong sự hiện diện của
Chúa, để nhìn thấy Thiên Chúa nơi tất cả những người bạn gặp gỡ,
để sống điều bạn nguyện gẫm buổi sáng trong suốt cả ngày. Khi bạn
đi làm nhiệm vụ, hãy làm lan toả xung quanh bạn niềm vui được
thuộc về Thiên Chúa, được sống với Chúa, được trở nên của riêng
Ngài. Trên đường phố, trong những khu ở của người nghèo, hay nơi
làm việc, hãy luôn cầu nguyện với cả trái tim và tâm hồn. Hỹa giữ
sự thinh lặng mà Chúa Giêsu đã giữ suốt ba mươi năm sống ẩn dật tại
làng quê Nazareth, và cho đến bây giờ Ngài vẫn còn giữ trong
nơi Nhà Tạm, để chuyển cầu cho chúng ta. Hãy bắt chước Đức Mẹ khi
cầu nguyện, Mẹ đã giữ tất cả trong lòng, qua việc cầu nguyện và suy
niệm, và Mẹ vẫn là trạng sư cầu khẩn mọi ơn phúc cho chúng ta.
---Hãy cầu nguyện. Hãy xin những ơn cần thiết. Hãy cầu nguyện
để có thể hiểu biết Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta đến nhường
nào, để rồi chúng ta có thể thương yêu những người khác. Hãy
cầu nguyện cho các sisters của chúng tôi, để chúng tôi không
làm hư việc của Thiên Chúa. Hãy cầu nguyện để Chúa Giêsu dùng
mỗi người chúng ta như Ngài muốn và ở bất cứ nơi nào Ngài muốn.
Trong thinh lặng, linh hồn
tôi đợi trông Chúa
Vì ơn cứu độ của tôi từ nơi Ngài mà đến.
(Tv
62,1)
Những tâm hồn cầu nguyện là những tâm hồn thinh lặng sâu xa.
Có một nhà thần học rất thế giá (important), ngài là một lịn
mục rất thánh thiện, và cũng là một trong những người nổi tiếng của
Ấn Độ ngày nay. Tôi biết ngài rất rõ, và tôi đã nói với ngài: “Thưa
Cha, Cha nói chuyện về Chúa cả ngày. Chắc hẳn Cha phải gắn bó mật
thiết với Chúa lắm !” Và bạn có biết ngài đã nói với tôi thế nào
không ? Ngài nói: “Có thể cha đang nói rất nhiều về Chúa, nhưng cũng
có thể cha nói chuyện với Ngài rất ít.” Sau đó Cha giải thích: “Có
thể cha đã nói huyên thuyên quá nhiều từ ngữ và có thể cha đang nói
về những điều tốt lành, nhưng tận đáy lòng của cha, cha đã không
có thì giờ để lắng nghe. Bởi vì trong thinh lặng của tâm hồn, Thiên
Chúa mới lên tiếng.”
---Thật khó cầu nguyện nếu bạn không biết cách cầu nguyện, nhưng
chính chúng ta phải cố gắng để tập luyện. Phương cách đầu tiên cần
áp dụng là thinh lặng. Chúng ta không thể đặt mình ngay lập tức trước
sự hiện diện của Chúa nếu chúng ta không thực hành luyện tập sự thinh
lặng nội tại cũng như thinh lặng bên ngoài. Vì vậy chúng ta cần phải
chú ý đặc điểm thinh lặng trong trí, thinh lặng
nơi mắt và thinh lặng nơi lưỡi.
---Thinh lặng mang lại cho chúng ta một cái nhìn mới về mọi
sự. Chúng ta cần thinh lặng để có thể chạm tới các tâm hồn. Điều
thiết yếu không phải là điều chúng ta nói nhưng là điều Thiên
Chúa nói với chúng ta và qua chúng ta. Chúa Giêsu luôn chờ đợi
chúng ta trong thinh lặng. Trong sự thinh lặng đó, Ngài sẽ lắng
nghe chúng ta, ở đó Ngài sẽ nói với tâm hồn chúng ta, và ở đó
chúng ta sẽ nghe thấy tiếng Ngài.
---Khía cạch chiêm niệm của ơn gọi thừa sai của chúng tôi thúc
giục chúng tôi tập hợp toàn thế giới và đưa vào giữa tâm trí
chúng tôi, nơi mà Ngài là nguồn gốc và là Thiên Chúa của toàn
thể vũ trụ mà Ngài đang hiện hữu và vũ trụ trở thành một với
Ngài, được uống từ nguồn nước yên tĩnh và bình an trong Chúa,
và để cho nguồn nước ân sủng trong sạch chảy tràn không ngừng
từ nguồn mạch chảy
đến cho mọi loại thụ tạo.
Thinh lặng nội tâm là điều khó thực hiện, nhưng chúng ta phải
nỗ lực cố gắng. Trong thinh lặng chúng ta tìm thấy một nguồn
năng lực mới và một sự hiệp nhất thực sự. Chính năng lực của
Thiên Chúa sẽ trở thành năng lực của chúng ta giúp chúng ta thi
hành mọi việc cách tốt đẹp, và như thế ý nghĩ của chúng ta sẽ
hợp nhất với ý nghĩ của Ngài vfa lời cầu nguyện của chúng ta
sẽ hợp nhất với lời cầu nguyện của Ngài, và hành động của chúng
ta sẽ hợp nhất với hành động của Ngài, và chúng ta sẽ hợp nhất
cuộc sống của chúng ta với sự sống của Ngài. Tất cả những lời
nói của chúng ta nếu không xuất phát từ bên trong sẽ trở nên vô dụng.
Những lời nói không mang lại ánh sáng của Chúa Kitô sẽ gia tăng
bóng tối.
---Đây là điều mà chúng ta phải học ngay từ lúc bắt đầu, đó
là lắng nghe tiếng nói của Chúa trong tâm hồn chúng ta, và trong
thinh lặng của tâm hồn mà Thiên Chúa lên tiếng. Và từ sự đầy
tràn của tâm hồn, miệng chúng ta phải nói ra. Đó là sự liên hệ
nối kết.
---Trong thinh lặng của tâm hồn, Thiên chúa nói và như thế bạn
phải lắng nghe. Và trong sự sung mãn của tâm hồn- vì đã đầy tràn
Thiên Chúa, đầy tràn tình yêu và lòng trắc ẩn, đầy tràn niềm
tin- miệng các bạn sẽ nói.
---Hãy lắng nghe trong thinh lặng, vì nếu tâm hồn bạn chứa đầy
những thứ khác thì bạn không thể nghe được tiếng nói của Thiên
Chúa. Nhưng khi bạn đã lắng nghe được tiếng Chúa trong sự yên
tĩnh của tâm hồn, thì trái tim bạn sẽ tràn đầy chính Chúa, giống
như Mẹ Maria đã tràn đầy ân sủng, Và sau đó, trong lòng tràn
đầy thì miệng nói ra.
---Việc tập luyện này cần rất nhiều hy sinh,
nhưng nếu chúng ta thực sự có ý định cầu nguyện và
muốn cầu nguyện chúng ta phải sẵn sàng làm điều đó
ngay từ bây giờ. Đây là những bước đầu tiên để hướng
về sự cầu nguyện, nhưng nếu chúng ta không thực hiện
bước đi đầu này với sự quả quyết thì chúng ta sẽ không
đạt được bước cuối cùng : là sự gặp gỡ Thiên Chúa.
---Trước khi bạn nói, điều cần thiết là bạn phải lắng nghe,
vì Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Bạn phải lắng nghe,
và chỉ sau đó, từ sự sung mãn của tâm hồn, bạn nói và Thiên Chúa
sẽ nghe.
---Những nhà chiêm niệm và khổ tu của mọi thời đại và mọi tôn
giáo đã tìm kiếm Thiên Chúa trong sự tĩnh lặng và vắng vẻ của
sa mạc, rừng rậm và đồi núi. Chính Chúa Giêsu cũng đã sống bốn
mươi ngày trong sa mạc và hàng giờ đồng ồ chuyện trò thân mật với
Chúa Cha trong sự yên tĩnh của đêm tối ở trên núi.
---Chúng ta cũng được mời gọi rút lui một vài khoảnh khắc trong
sự thinh lặng và ở một mình với Chúa, cùng với cộng đoàn cũng
như mỗi cá nhân, để ở một mình với Ngài-mà không phải với sách
vở, với những ý nghĩ hay kỷ niệm, nhưng hoàn toàn giũ bỏ tất
cả, để ở âu yếm trước sự hiện diện của Chúa : thinh lặng, trống
rỗng, mong chờ và bất động.
---Thiên Chúa là bạn của sự thinh lặng. Chúng ta không thể tìm
thấy Ngài trong sự ồn ào, náo nhiệt. Chúng ta hãy nhìn xem thiên
nhiên - cây cối, hoa, cỏ - chúng dều lớn lên trong âm thầm và
tĩnh lặng. Những ngôi sao, mặt trăng và cả mặt trời cũng đều
chuyển vận trong sự thinh lặng.
---Các thánh tông đồ đã nói : “Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ
chuyên lo việc cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6,4).
Càng nhận được nhiều trong sự cầu nguyện thinh lặng, chúng ta càng
có khả năng trao ban nhiều trong đời sống hoạt động. Thinh lặng
cho chúng ta một cái nhìn mới về mọi sự. Chúng ta cần sự thinh
lặng đó để get through các linh hồn. Điều thiết yếu không phải
là điều chúng ta nói nhưng là điều Thiên Chúa nói với chúng ta
và điều Ngài nói với người khác qua chúng ta.
---Chúa Giêsu luôn chờ đợi chúng ta trong thinh lặng. Trong
thinh lặng Ngài lắng nghe chúng ta, trong thinh lặng Ngài nói với
tâm hồn chúng hồn. Cũng trong thinh lặng mà chúng ta được ban tặng
đặc ân là nghe thấy tiếng Ngài.
---Thật là khó cầu nguyện nếu bạn không biết cách thực hành.
Chúng ta cần giúp đỡ nhau trong cầu nguyện.
---Mỗi người chúng ta phải xem đây là một nhiệm vụ thiêng liêng
và quan trọng khi cộng tác với nhau trong nỗ lực chung để thăng
tiến và duy trì một bầu khí suy gẫm và thinh lặng sâu xa trong
cuộc sống riêng tư của chúng ta, giúp chúng ta ý thức liên tục
về sự hiện diện của thiêng liêng của Thiên Chúa ở mọi nơi và
trong mọi người, đặc biệt trong tâm hồn chúng ta và trong tâm
hồn các chị em sống với chúng ta để phục vụ cho những người bất
hạnh.
---Thinh lặng của lưỡi dạy chúng ta rất nhiều điều : nói với
Chúa Kitô, vui vẻ trong giờ nghỉ, và có nhiều thứ để nói. Trong
giờ giải trí nghỉ ngơi Chúa Kitô nói với chúng ta qua người khác
và trong giờ nguyện gẫm Ngài nói trực tiếp với chúng ta. Thinh
lặng cũng làm cho chúng ta trở nên giống Đức Kitô hơn vì Ngài
yêu thích cách đặc biệt nhân đức này.
---Sau đó chúng ta có được sự thinh lặng của mắt là điều giúp
chúng ta luôn nhìn ngắm Thiên Chúa. Đôi mắt chúng ta giống như
hai cửa sổ, từ ô cửa này Đức Kitô cũng như cả thế giới đến trong
tâm hồn chúng ta. Rất thường khi chúng ta cần cam đảm để nhắm
mắt lại. Chúng ta thường nói: “Ước gì tôi đừng nhìn thấy điều
này thì hơn”, tuy nhiên chúng ta lại làm rất ít nỗ lực để vượt
qua ước muốn nhìn thấy mọi sự.
Để có thể thực hành sự thinh lặng nội tâm thực sự, chúng ta
cần thực hành các bước sau :
- Thinh lặng đôi mắt : bằng cách luôn tìm kiếm vẻ đẹp và lòng nhận hậu của Thiên Chúa ở mọi nơi; và nhắm mắt lại trước những lỗi lầm của người khác, trước những điều xấu xa và gây rối loạn cho linh hồn.
- Thinh lặng đôi tai : bằng cách luôn lắng nghe tiếng nói của Chúa và tiếng than khóc của những người nghèo khổ cùng khốn; và bịt tai lại trước những lời của những người xấu xa, của bản tính yếu đuối con người như : những lời tục tĩu, ngồi lê đôi mách và những lời nói thiếu bác ái.
- Thinh lặng nơi lưỡi : bằng cách ca ngợi Thiên Chúa và nói Lời của Ngài, là lời chân thật mang lại ánh sáng, bình an, hy vọng, niềm vui; đồng thời kìm hãm trước những sự bào chữa ích kỷ, và những lưòi nói gây hoang mang, rối loạn, đau khổ và sự chết.
- Thinh lặng trong trí : bằng cách cởi mở trước sự thật và sự hiểu biết về Thiên Chúa trong cầu nguyện và sự chiêm niệm, giống như Mẹ Maria đã suy gẫm những điều lạ lùng của Thiên Chúa trong lòng; và đóng lại trước những điều gian dối, điên cuồng, những ý nghĩ tiêu cực, xét đoán vội vàng, nghi ngờ sai lầm cho người khác, và những ý nghĩ trả thù ...
- Thinh lặng trong tâm hồn : bằng cách yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực, và yêu thương nhau như chúa đã yêu thương hết mọi người chúng ta; chỉ ước muốn một mình Thiên Chúa, tránh sự ích lỷ, thù hận, ghen tị và tham lam.
Sự thinh lặng của chúng ta là một sự thinh lặng tràn đầy niềm vui và tập trung vào Chúa; nó đòi chúng ta phải từ bỏ mình liên tục và nhận chìm mình trong sự thinh lặng sâu xa của Chúa, nơi mà việc ở một mình với Chúa trở thành hiện thực.
Để nuôi dưỡng và duy trì bầu khí cầu nguyện của sự thinh lặng nội tâm, chúng ta cần:
- Tôn trọng thời gian và những nơi qui định phải giữ thinh lặng.
- Đi lại và làm việc nhẹ nhàng, yên tĩnh trong sự cầu nguyện.
- Tránh hết sức không nói chuyện khi không cần thiết.
- Khi phải nói điều gì thì nói cách nhỏ nhẹ, tử tế; chỉ nói những điều cần.
- Tìm kiếm sự thinh lặng sâu xa như một thời gian thánh và quí giá, như sự rút lui vào sự thinh lặng sống động của Thiên Chúa.
Về đức khiết tịnh, Chúa Giêsu đã nói: “Phúc cho những tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa” (x Mt 5,8). Nếu tâm hồn chúng ta đầy dẫy những việc thiếu bác ái và ghen tương, chúng ta không thể nhìn thấy Thiên Chúa. Tôi có thể đi nhà thờ mỗi ngày vài giờ, nhưng nếu tâm hồn tôi không trong sạch tôi cũng sẽ không nhìn thấy Ngài. Đó là lý do tại sao chúng ta cần thinh lặng. Chính trong sự thinh lặng và trong sạch của tâm hồn mà Thiên Chúa lên tiếng.
- Thinh lặng của đôi mắt
- Thinh lặng của đôi tai
- Thinh lặng của đôi môi
- Thinh lặng của tâm trí
- Thinh lặng của trái tim
Vì trong thinh lặng của tâm hồn Thiên Chúa sẽ cất tiếng. Chúng ta hãy hiến dâng cho Chúa Giêsu năm sự thinh lặng này như là biểu hiệu lòng biết ơn của chúng ta.
- Chúng ta sẽ không bao giờ học được cách cầu nguyện nếu chúng ta không giữ thinh lặng:
- Hoa trái của thinh lặng là lòng tin.
- Hoa trái của lòng tin là cầu nguyện.
- Hoa trái của cầu nguyện là tình yêu.
- Hoa trái của tình yêu là phục vụ.
- Và hoa trái của phục vụ là bình an.
---Hãy thinh lặng trong tâm, không
chỉ thinh lặng ở nơi miệng-điều này cũng cần thiết. Và các bạn
sẽ nghe được tiếng Chúa khắp mọi nơi: trong khi đóng cửa phòng,
trong những người cần đến bạn, trong một con chim đang hót, trong
những bông hoa, nơi các súc vật - sự thinh lặng thật tuyệt diệu và
đáng ca ngợi. Tại sao ? Vì Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, và các
bạn có thể nhìn thấy và nghe tiếng Ngài. Con quạ kia đang ca ngợi
Thiên Chúa. Con quạ ngớ ngẩn kia-tôi có thể nghe nó hót rất rõ ràng.
Và chúng ta có thể thấy và lắng nghe tiếng Chúa nơi con quạ đó, tuy
nhiên chúng ta sẽ không thấy và nghe được tiếng Ngài nếu tâm
hồn chúng ta không trong sạch.
Trước khi bắt đầu cuộc sống công khai Chúa Giêsu đã trải qua bốn mươi đêm ngày trong thinh lặng. Ngài thường rút lui một mình lên núi và ở suốt đêm trên đó trong thinh lặng và cầu nguyện. Người mà đã nói với uy quyền thì đã sống phần đầu cuộc đời trong âm thầm và thinh lặng.
Hãy nhìn xem thiên nhiên, cây cối, hoa cỏ lớn lên thế nào trong sự thinh lặng hoàn toàn. Chúng ta hãy ngắm nhìn những ngôi sao, mặt trăng và mặt trời, để biết chúng đã chuyển vần thế nào trong sự tĩnh lặng. Các thánh tông đồ đã nói: “ phần chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6,4). Vì càng nhận lãnh được nhiều trong sự cầu nguyện tĩnh lặng, chúng ta càng có khả năng trao ban nhiều hơn trong đời sống hoạt động và phục vụ.
---Nếu chúng ta cẩn thận giữ thinh lặng, điều đó sẽ giúp chúng ta
dễ cầu nguyện hơn và cầu nguyện cách sốt sắng. Chúng ta thường nói
chuyện quá nhiều, lặp lại quá nhiều, nói và viết những chuyện tầm
phào. Đời sống cầu nguyện của chúng ta đã bị tổn thương nhiều vì
tâm hồn chúng ta không thinh lặng.
Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí.
(2 Cr 3,18)
Sự chiêm niệm của chúng ta là một niềm vui tinh sạch trong việc nhận thức sự hiện diện của Thiên Chúa. Đó chính là sự thinh lặng trong kinh nghiệm của chúng ta về sự sung mãn của Ngài. Sự chiêm niệm của chúng ta chính là cuộc sống của chúng ta. Đây không phải là vấn đề chúng ta làm gì nhưng là vấn đề chúng ta là gì. Đó chính là việc Chúa Thánh Thần chiếm đoạt tinh thần của chúng ta, Ngài làm lan toả trong chúng ta sự phong phú của Thiên Chúa và truyền cho chúng ta sức mạnh để sai chúng ta loan truyền sứ điệp tình yêu của Ngài cho mọi loài thọ tạo.
- Chúng ta không bao giờ phí phạm thời giờ trong việc tìm kiếm những kinh nghiệm thiêng liêng trong đời sống chiêm niệm, nhưng chúng ta sống và hít thở bằng đức tin tinh sạch; hơn nữa chúng ta thận trọng và sẵn sàng đón Chúa đến bằng việc thực thi những bổn phận hàng ngày với sự nhiệt thành và lòng mến phi thường.
Cuộc sống chiêm niệm của chúng ta là :
- Để nhận thức sự hiện diện thường xuyên của Chúa và lòng tình thương yêu âu yếm của Ngài trong những điều bé nhỏ nhất của đời sống chúng ta.
- Để luôn sẵn sàng với Ngài, và yêu mến Ngài với hết tâm hồn, trí khôn, với hết linh hồn và sức mạnh, dưới bất cứ hình thức, biến cố nào Ngài đến với chúng ta.
---Chúng ta được mời gọi để duy
trì sự chìm ngập trong sự chiêm niệm về tình yêu Chúa Cha, Chúa Con
và Chúa Thánh Thần đã dành cho mỗi người và tất cả chúng ta,
tình yêu ấy đã dược tỏ lộ qua những điều kỳ diệu của công trình sáng
tạo, của công cuộc cứu độ và sự thánh hoá không ngừng thế giới.
---Chúng ta cũng không nên tin tưởng quá nhiều vào sách vở để học
cách chiêm niệm, nhưng hãy đặt chúng ta trước Chúa Giêsu
và xin Ngài ban cho chúng ta Thần Khí của Ngài để Ngài dạy chúng
ta cách thức chiêm niệm.
Chúa Giêsu -đấng đang chiêm niệm với chúng ta- cũng chính là đá tảng nguyện gẫm, là cánh rừng chiêm niệm, là sa mạc vắng vẻ, là hang động và nơi ẩn thân để chúng ta vào và ở lại trong sự chiêm ngắm sâu xa về Thiên Chúa trong sự hợp nhất với tất cả mọi anh chị em chúng ta.
---Thánh Tôma Aquinô nói: “Những người được kêu gọi trong đời sống
phục vụ sẽ sai lầm khi nghĩ rằng họ được miễn trừ khỏi đời sống chiêm
niệm. Thực ra cả hai phận sự này đều gắn bó mật thiết với nhau. Vì
vậy, hai hình thức này không loại trừ nhau, nhưng liên can và giúp
đỡ, bổ túc cho nhau. Nếu hành động có sự kết quả, thì hành động cần
cuộc sống chiêm niệm. Và sau đó, khi sự chiêm niệm đã đạt tới đỉnh
cao, sẽ lan tràn những ân sủng trong cuộc sống phục vụ.
---Như một nhà chiêm niệm, môi miệng bạn phải trong sạch để luôn
nói những lời của Thiên Chúa, cũng như đôi tay trong đời sống phục
vụ của chúng ta phải trong sạch khi chạm đến thân thể Đức Kitô. Đây
phải là cuộc sống thực sự của chúng ta. Mặt khác, chúng ta thường
huyên thuyên nói về nhiều việc, học thuộc lòng nhiều thứ, cố gắng
biết càng nhiều càng tốt về thần học, về Thiên Chúa, nhưng chúng
ta thường không có khả năng để thắp sáng ánh lửa kia trong tâm tâm
hồn mọi người. Chúng ta chỉ nói, mà không sống những lời ấy. Vì vậy,
điều quan trọng đối với chúng ta là những lời nói của chúng ta phải
là kết quả của đời sống chúng ta, phải là hoa trái sự cầu nguyện,
lòng sám hối và sự thờ phượng của chúng ta.
Chúng ta được mời gọi để mở lòng cảm thông và yêu mến thế giới. Và Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi Ngài đã ban Con Một mình. Ngày nay, Thiên Chúa vẫn thương yêu loài người đến nỗi đã ban cho các bạn và tôi trở nên tình yêu thương và lòng trắc ẩn của Ngài, và sự hiện diện đó, đời sống cầu nguyện, hy sinh và phó thác cho Thiên Chúa. và Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta đáp lại bằng cách trở thành một người chiêm niệm. Sự thật là, mỗi Kitô hữu, mỗi người công giáo sống đời sống hiệp nhất trong Bí tích Thánh Thể, hiệp nhất với Chúa Giêsu đều là những người chiêm niệm.
---Nếu chúng ta nhận lãnh lời Đức Kitô, tất cả chúng ta đều là những
nhà chiêm niệm giữa lòng thế giới, vì nếu chúng ta có đức tin, chúng
ta sẽ luôn sống liên tục trước sự hiện hữu của Ngài. Chúng ta cần
một đời sóng cầu nguyện thật sự để có được đức tin ấy. Chúng ta cần
thờ lạy Thiên Chúa và cần có một tinh thần hy sinh. Chúng ta cần
được dưỡng nuôi không ngừng bằng chính sức sống tự nơi Ngài.
Tất cả chúng ta được mời gọi trở nên những nhà chiêm niệm giữa lòng thế giới :
- Bằng việc tìm kiếm dung mạo Thiên Chúa trong mọi sự, trọng mọi người, ở mọi nơi, mọi lúc; và nhận ra bàn tay can thiệp của Ngài trong mọi biến cố.
- Bằng việc nhìn ngắm và thờ lạy sự hiện diện của Chúa Giêsu, đặc biệt trong sự thấp hèn của Bánh Thánh, và trong sự đau khổ của người nghèo, bằng việc cầu nguyện và làm việc với Chúa Giêsu, cho Chúa Giêsu và cho Chúa Giêsu.
Cuộc sống chiêm niệm của chúng ta sẽ duy trì những đặc tính sau :
- Thừa sai : bằng cách ra đi tìm kiếm các linh hồn, về phương diện thể lý cũng như tinh thần.
- Chiêm niện : bằng cách tập hợp cả thế giới vào tâm trí chúng ta là nơi Thiên Chúa ngự trị, và để dòng suối tinh tuyền của ân sủng Chúa tràn ngập không ngừng trên mọi tạo vật Ngài dựng nên.
- Phổ quát (Universal) : bằng việc cầu nguyện và chiêm niệm cùng tất cả và cho tất cả, đặc biệt với và cho tinh thần của những người ngheog khổ.
---Cuộc sống của chúng ta phải được
nối kết với Chúa Giêsu sống động trong chúng ta. Nếu chúng ta
không sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa, chúng ta sẽ không
thể tiến lên được.
Một đời sống nội tâm thực sự sẽ làm bừng cháy và thiêu đốt mọi sự. Đời sống nội tâm này sẽ giúp chúng ta tìm thấy Chúa Giêsu trong những túp lều tồi tàn của những khu ổ chuột, trong những hoàn cảnh khốn khổ đáng thương nhất của người nghèo- Thiên Chúa làm người đã bị lột trần trên thập giá, ảm đạm, bị mọi người xa lánh khinh bỉ, một con người đau khổ bị đè bẹp như sâu bọ bởi sự trừng phạt và án tử hình đóng đinh vào thập ác. Chính đời sống nội tâm này là động cơ thúc đẩy những Thừa Sai Bác Ái phục vụ Chúa Giêsu nơi những người nghèo khổ.
---Tôi muốn nhắc lại rằng chúng tôi không phải là những người làm
công tác xã hội. Chúng tôi là những nhà chiêm niệm giữa lòng thế
giới hôm nay.
Bằng việc chiêm niệm các linh hồn kín múc những ân sủng từ nơi cung lòng Thiên Chúa để phân phát ra trong đời sống hoạt động.
---Các thầy và các nữ tu ngành hoạt động của chúng tôi đặt sự phục
vụ của họ vào trong hành động, còn các thầy và các sisters ngành
chiêm niệm đặt những hành động yêu thương của họ trong lời cầu nguyện,
trong sự sám hối đền tội, trong sự tôn thờ, chiêm niệm, và trong
sự công bố về Ngôi Lời mà họ chiêm ngắm và thờ lạy. Hoạt động và
chiêm niệm không phải là hai đời sống khác nhau; Đơn giản, đời sống
này là đức tin biểu lộ ra hành động qua sự phục vụ, còn đời sống
kia là đức tin biểu lộ ra hành động qua sự cầu nguyện.
---Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô nhận những lời của Chúa Giêsu
theo nghĩa đúng của Lời: “Khi Ta đói, Ta trần truồng, không nhà cửa,
và các con đã cho Ta ăn, các con đã cho Ta măc, các con đã cho Ta
tạm trú” (x Mt 25,35-36). Bằng cách thức này chúng ta tiếp xúc với
Ngià hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Và sự chiêm niệm này, sự chạm đến
Đức Kitô nơi người nghèo, thì thật là đẹp, thật là hiện thực, và
tràn đầy yêu thương.
Người nghèo là món quà Thiên Chúa tặng ban cho chúng ta. Nhưng họ cần đời sống cầu nguyện của chúng ta và sự hiệp nhất của chúng ta với Thiên Chúa. Lời cầu nguyện thực sự là sự kết hợp với Thiên Chúa, một sự kết đầy sức sống như cây nho với các cành nho, mà Chúa Giêsu đã minh hoạ cho chúng ta trong trang Tin Mừng của Thánh sử Gioan. Chúng ta cần cầu nguyện. Chúng ta cần sự hiệp nhất để sản sinh hoa trái tốt lành. Hoa trái là điều mà chúng ta làm phát sinh từ đôi tay chúng ta, có thể đó là thức ăn, quần áo, tiền bạc và những thứ khác. Tất cả những điều đó là kết quả của sự hiệp nhất của chúng ta với Thiên Chúa. Chúng ta cần một đời sống cầu nguyện, một đời sống khó nghèo và hy sinh để làm điều đó với tình yêu.
Hy sinh và cầu nguyện bổ túc cho nhau. Không có lời cầu nguyện nào mà không kèm với hy sinh, cũng chẳng có hy sinh nào mà không có lời cầu nguyện. Đó chính là điều mà Chúa Giêsu đã tỏ cho chúng ta. Cuộc sống của Ngài đã diễn ra trong sự kết hiệp thân mật với Chúa Cha và trong suốt cuộc sống tại thế này Ngài đã toàn làm những điều tốt lành nhân hậu. Chúng ta cần phải làm giống như vậy. Chúng ta hãy đi bên cạnh Ngài. Chúng ta cần để cho Chúa Giêsu cơ hội biến chúng ta thành lời và công việc của Ngài- để chia sẻ thức ăn và quần áo của Ngài cho thế giới hôm nay. Nếu chúng ta không chiếu sáng ánh sáng của Chúa Kitô ở xung quanh chúng ta, thì bóng tối –cái đang chiếm ưu thế trong thế giới này- sẽ gia tăng. Mọi người xung quanh chúng ta phải nhận ra Thiên Chúa qua sự kết hợp của chúng ta với Ngài.
---Chúng ta phải gắn bó và trung thành với Chúa Giêsu. Cả cuộc sống
của chúng ta phải đan kết với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu trong Thánh
lễ Misa. Chúa Giêsu trong các chị em của chúng ta, nơi người nghèo,
và trong việc tôn sùng Thánh Thể. Cũng chỉ là một Chúa Giêsu. Cũng
như rượu và những chùm nho là một, cũng như những cành nho ăn khớp
chặt chẽ với cây nho- thì chúng ta cũng phải hoàn toàn nên một với
Chúa Giêsu.
---Cũng như hạt giống được dự định sẽ trở thành cây – chúng ta cũng
được dự định để lớn lên trong Chúa Giêsu.
---Nếu chúng ta bê trễ trong việc cầu nguyện và nếu các cành nho
không nối kết với cây nho, thì chúng sẽ chết. Sự liên hệ của cành
với cây nho chính là sự cầu nguyện. Ở đâu có sự liên hệ mật thiết,
ở đó có tình yêu thương, niềm vui sướng, và chúng ta sẽ là những
tia sáng của tình yêu Thiên Chúa, niềm hy vọng hạnh phúc muôn đời,
là ngọn lửa tình yêu bừng cháy. Tại sao ? Bởi vì chúng ta nên một
với Đức Kitô. Nếu chúng ta thực lòng muốn học cách cầu nguyện : hãy
thinh lặng !
                     
CHƯƠNG HAI
ĐỜI SỐNG CỦA MẸ : ĐÔI NÉT PHÁC HOẠ VỀ TIỂU SỬ
Sinh tại miền tây nam Châu Âu năm 1910, Agnes Gonxha Bojaxhiu
(Mẹ Têrêsa) lớn lên và trở thành một y tá bé xíu giữa đám đông những kẻ
thiếu ăn khốn khổ của những khu ổ chuột tại Calcutta. không bao lâu, công
việc của Mẹ đã lớn lên và vượt qua biên giới toàn cầu, làm cho Mẹ trở nên
một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất và được kính trọng nhất trên
thế giới. Được trao nhiều giải thưởng, như giải thưởng Nobel Hoà Bình và
giải thưởng Templeton vì Sự Tiến Bộ của Tôn Giáo, Mẹ đã được diện kiến các
Đức Giáo hoàng, các vị tổng thống và các hoàng thân. Thế nhưng, Mẹ không
bao giờ ngần ngại làm những công việc hèn hạ nhất, và một trong những đề
tài hay được Mẹ nhắc đến đoa là cần phải học ở khiêm nhường. Ngày nay, có
hơn 4.000 nam nữ tu sĩ khắp nơi trên thế giới thuộc dòng Thừa Sai Bác Ái
của Mẹ với 107 nhà đã được thành lập.
Bài Thánh vịnh về những người trung thành theo Giavê rất
thích hợp với Mẹ Têrêsa :
Họ được trồng trong nhà Đức Chúa
sẽ trổ hoa trong sân nhà Thiên Chúa chúng ta.
Tuy già cỗi vẫn sinh hoa kết trái
tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn.
Để loan truyền rằng chúa thực là ngay thẳng
Ngài là đá tảng, nơi Người chẳng chút dối gian.
Tv 92,14-16
Ngày 16 tháng Tám năm 1910 : một bé gái đã được sinh ra trong
gia đình Bojaxhiu. Đứa trẻ đó một ngày kia đã trở
nên nổi tiếng với tên gọi Mẹ Têrêsa sinh ở Skopje, thủ đô của nước cộng
hoà Albanian của Macedoniea. Cô là người con thứ ba và bé út của ông Nikola
Bojaxhiu và bà Drana Bernai, thành hôn năm 1900. Chị của cô, Aga, sinh năm
1905, và người anh trai Lazar sinh năm 1907.
Ngày 27 tháng Tám năm 1910: cô được rửa tội. Đứa
trẻ được rửa tôi trong Nhà thờ Giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giêsu và được đặt
tên là Gonxha (Agnes). Cha mẹ cô là những người công giáo đạo hạnh, nhất
là mẹ cô.
Năm 1919 : bố cô qua đời. Nikola Bojaxhiu đã chết do một vụ ngộ
độc mưu sát sau khi tham dự một cuộc mitting chính trị. Ông
là một hội viên thuộc hội đồng thành phố với niềm tin vào mạnh mẽ vào chủ
nghĩa dân tộc.
Từ năm 1915-1924 ; Agnes đã sống thời thơ ấu thật hạnh phúc. Cùng
với chị và anh trai, Agnes theo học ở các trường công lập.
Cô học rất tốt, mặc dầu sức khoẻ của cô có phần mong manh. Cô cũng dự các
lớp học giáo lý của giáo xứ, tham gia ca đoàn, và là hội viên của một tổ
chức giưói trẻ công giáo mang tên Hội Con Đức Mẹ. Cô đặc biệt rất thích
đọc các truyện về các nhà thừa sai cũng như sách hạnh các thánh.
Mẹ Têrêsa đã kết luận về cuộc sống gia đình của Mẹ trong
suốt thời thơ ấu và niên thiếu của mình: “Tất cả chúng tôi
sống hiệp nhất với nhau, nhất là sau cái chết của bố. Chúng tôi sống vì
nhau và nỗ lực hết sức cho hạnh phúc của người khác. Chúng tôi thực sự đã
đồng tâm nhất trí với nhau và là một gia đình thật hạnh phúc”.
Lazar, người con trai duy nhất của gia đình, thường bình
luận về đưòi sống tôn giáo của mẹ và hai chi em như sau :
“Chúng tôi sống bên cạnh Nhà thờ giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thỉnh thoảng
mẹ, chị và em gái tôi dường như ở lại nhà thờ lâu như ở nhà mình. Họ luôn
bị cuốn hút với ca đoàn, với các công việc tông đồ của giáo xứ, và với các
đề tài về các nhà thừa sai”.
Lazar cũng thường nới về lòng quảng đại của mẹ mình: “Mẹ
tôi không bao giờ để bất cứ một người nhgèo nào đến trước
của nhà tôi mà lại ra đi với đôi tay không. Khi chúng tôi nhìn mẹ với sự
ngạc nhiên, bà ấy luôn nói: ‘Hãy hgi nhớ điều này, mặc dù những người đó
không phải là máu mủ với chúng ta, và mặc dù họ nghèo túng, họ vẫn là anh
em của chúng ta’”.
Khi Agnes được mười hai tuổi, cô cảm thấy tiếng gọi đầu tiên
trong đời sống tu trì và thừa sai, tiếng gọi đó đã âm thầm
ngủ yên trong vài năm. Trong khi đó, cô vẫn tiếp tục là một thành viên hoạt
bát và năng động của Hội Con Đức Mẹ. Với sự khích lệ của các linh mục trong
giáo xứ, là các linh mục dòng Tên, cô đã dần trưởng thành trong niềm ao
ước trở thành thừa sai ở nước ngoài. Anh trai của Agnes, Lazar, đã sang
nước Úc để học tại trường đào tạo đặc biệt về quân sự và trở thành một sĩ
quan kỵ binh.
Năm 1928 : Agnes gia nhập tu hội các Soeurs
dòng Đức Bà Loreto. Mối
bận tâm trở thành thừa sai nước ngoài của cô được chắc chắn
bằng một tiếng gọi rõ ràng trong đời sống tu trì khi cô cầu nguyện trước
bàn thờ thánh Bổn mạng của Skopje: “Đức Mẹ đã can thiệp cho tôi và đã giúp
tôi khám phá ơn gọi của mình”. Với sự hướng dẫn và giúp đỡ của vị linh mục
dòng Tên Yugoslav, Agnes đã xin vào dòng các nữ tu Đức Bà Loreto (thường
được gọi là dòng Đức Bà Ái Nhĩ Lan), được thành lập vào thế kỷ XVI do bà
Mary Ward. Cô đã bị hấp dẫn bởi những công cuộc thừa sai của họ tại Ấn Độ.
Ngày 26 / 9 / 1928 : Agnes được chuyển
đến Nhà Mẹ ở Ái Nhĩ Lan. Sau
khi được nhận vào nhà thử, Agnes được gửi đến Dublin, cô
đi bằng tàu lửa ngang qua nước Yugoslavia, Áo quốc, Switzerland, Pháp, Anh
và cuối cùng cô đã đến Nhà Mẹ của các Soeurs dòng Đức Bà Loreto.
Ngày 1/12/1928 : Cô đã đến Ấn Độ. Sau
hai tháng học tiếng Anh cấp tốc, Agnes được gửi sang Ấn Độ; ngày 6/1/1929
sau ba mươi bảy ngày trên tàu cô đã tới Ấn Độ. Agnes chỉ ở tại Calcutta
một tuần lễ, sau đó cô được gửi đến Darjeeling, dưới chân núi của dãy Himalayas,
để bắt đầu thời gian Nhà Tập.
Ngày 24/5/1931 : Agnes trở thành nữ tu Têrêsa. Sau
hai năm tập viện, Agnes tuyên khấn lần đầu để trở thành nữ tu dòng Đức Bà
Loreto, đổi tên thánh lúc rửa tội thành Têrêsa. “Ngày lễ khấn lần đầu tôi
đã chọn tên thánh là Têrêsa. Nhưng không phải là Thánh Têrêsa Mẹ thành Avila.
Tôi chọn tên thánh là Têrêsa của Bông hoa nhỏ, Têrêsa thành Lisieux.”
Từ năm 1931 – 1937 : Sister Têrêsa chuyển đến Calcutta. Sau
khi khấn tạm, Sister Têrêsa sống ở Calcutta và là giáo viên dạy địa lý và
lịch sử tại trường trung học Thánh Maria, do các nữ tu dòng Đức Bà Loreto
điều hành.
Ngày 24/5/1937 : Sister Têrêsa tuyên khấn trọn đời. Sau nhiều lần
tuyên khấn lại, Sister Têrêsa đã tuyên lời khấn trọn đời trong dòng Đức
Bà Loreto. Mẹ Têrêsa rất hài lòng về cuộc sống của Mẹ trong dòng tu này:
“Mẹ là nữ tu hạnh phúc nhất tại Loreto. Mẹ đã dành trọn thời gian ở đây
để dạy học. Nghề giáo viên là một công việc tông đồ thực sự vì nó thực hành
vì tình yêu Thiên Chúa. Tôi rất yêu thích dạy học.” Sau đó không bao lâu
Mẹ đã trở thành hiệu trưởng của trường trung học Thánh Maria.
Ngày 10/9/1946 : Thiên Chúa đã gọi Mẹ đi đến và phục vụ cho
những người nghèo khổ. Mẹ Têrêsa đã gọi đó
là ‘ngày của thần hứng’. Mẹ nói: “Khi đó, Mẹ đang đi trên chuyến xe lửa
từ Calcutta về Darjeeling để tham dự tuần phòng cuối năm. Khi đang âm thầm
cầu nguyện Mẹ cảm thấy rỗ ràng một tiếng gọi nữa trong ơn gọi của mình.
Và sứ điệp đã rõ. Mẹ phải rời bỏ tu viện và dành trọn bản thân để giúp đỡ
người nghèo bằng cách đến và sống với họ. Đó là một mệnh lệnh. Mẹ biết Mẹ
phải đi đâu, nhưng Mẹ không biết phải làm điều đó cách nào.”
Ngày 16/8/1948 : Toà thánh tại Rôma cho phép Mẹ theo đuổi ơn gọi mới
của mình. Rời bỏ các nữ tu dòng Đức
Bà Loreto là một điều khó khăn và đau khổ đối với Mẹ Têrêsa. Để làm được
điều đó, Mẹ cần có phép đặc biệt từ Rôma sau khi được dòng cũ của Mẹ chấp
thuận. Cuối cùng Toà Thánh đã cho phép Mẹ được sống như một nữ tu ngoài
tu viện.Mẹ đã rời dòng ngày 16/8/1948, sau khi cởi trả bộ tu phục của dòng
Đức Bà Loreto và khoác trên mình bộ sari màu trắng giống như y phục của
những phụ nữ nghèo nhất tại Ấn Độ. Bộ sari có đường viền màu xanh dương
là biểu tượng ước mơ của Mẹ là bắt chước sự trong sạch của Đức Trinh Nữ
Maria.
Mẹ Têrêsa đã rời Calcutta để tham dự khoá đào tạo y tá sơ
cấp trong ba tháng, sau đó trở lại để phục vụ cho những người
nghèo khổ tại các khu ổ chuột ở Calcutta. Cũng trong năm nay, Mẹ đã xin
và được nhập quốc tịch Ấn Độ. Cuối những năm 70, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI
đã ban cho Mẹ được mang quốc tịch Vatican để Mẹ đi lại dễ dàng trong các
công tác thừa sai.
Ngày 19/3/1949 : Người đệ tử đầu tiên đi theo Mẹ Têrêsa. Subashini
Das, một cựu học sinh của Mẹ Têrêsa, bất ngờ đến thăm Mẹ
và nói rằng cô muốn theo Mẹ và tham gia các công việc của Mẹ. Cô là nữ tu
đầu tiên của dòng tuy lúc đó chưa được thành lập.
Ngày 10/7/1950 : Dòng Thừa Sai Bác Ái đã được phép của Toà Thánh Rôma. Những
người phụ nữ khác đã theo Subashni Das một cách nhanh chóng
đầy hứa hẹn. Mẹ Têrêsa nói : “Sau năm 1949, tôi nhìn thấy các chị em cứ
theo nhau đến xin gia nhập. Tất cả họ đều là học sinh cũ của tôi. Họ muốn
hiến trao mọi sự cho Thiên Chúa, và họ có vẻ vội vã làm điều này.” Ngày
7/10/1950, ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi, Toà Thánh đã cho phép hoạt động dòng
tu mang tên Thừa Sai Bác Ái của Mẹ.
Mười hai người phụ nữ bắt đầu thời gian Nhà tập, kéo dài
trong hai năm.
Ngày 22/8/1952 : Mở nhà cho người khốn cùng hấp hối. Lúc
này có gần ba mươi phụ nữ trong hội dòng. Khoảng mười hai người trong số
họ đã tuyên khấn trọn đời. Có mười hai tập sinh và số còn lại là nhà thử.
Các nữ tu đang cần một tu viện thực sự cho mình. Họ đang ở trọ trong một
căn hộ cho thuê, do ông Michael Gomes biếu tặng. Các nữ tu cần được học
hỏi và đào tạo trong đời sống tu trì, trong khi chăm sóc cho các trẻ em
ở những khu ổ chuột, những người đau yếu và những người hấp hối tại đây.
Mẹ Têrêsa đã sắp xếp và mua được một ngôi nhà cho những người
hấp hối ở Kaligha, một ngôi đền cổ của người Hinđu ở ngay
trung tâm của thành phố calcutta. Ngôi nhà được khánh thành ngày 22/8/1952,
ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, và ngay lập tức căn nhà đầy ắp những
người bệnh hoạn hấp hối, đây là điều đã và đang xảy ra trong mấy chục năm
qua, không kể vô số những lần thay đổi người ra kẻ vào (vì luôn có những
người bệnh tật hấp hối được đưa đến đây). Ngôi nhà được đặt tên là Nirmal
Hriday (nghĩa là “Nhà của những tâm hồn trong sạch”), đây là tên được những
người Hinđu chấp nhận, họ là phần lớn những người được đưa đến đây.
Năm 1953 : Nhà Mẹ của dòng Thừa Sai Bác Ái được thành lập.
Sau khi ‘tấn công’ Thiên đàng bằng những lời cầu nguyện mạnh
mẽ và liên lỷ, hội dòng Thừa Sai Bác Ái đã mua được một căn
nhà để làm tu viện cho mình, tại số 54 đường Lower Circular ở Calcutta.
Căn nhà rất tốt cho những nhu cầu đời sống tu trì, và tương đối rộng rãi.
Ngôi nhà này sẽ trở nên trụ sở chính điều hành các công tác hoạt động của
dòng Thừa Sai Bác Ái.
Cũng trên con đường Lower Circular này, các sisters đã thuê
và sau đó đã mua một căn nhà khác cho những người vô gia
cư và các trẻ mồ côi của các khu ổ chuột. Rất nhiều cha mẹ của những em
này đã chết trong nhà hấp hối của các nữ tu.
Lúc đầu các sisters cũng rất muốn mở một nhà cho các bệnh
nhân phong mà chính các sisters sẽ chăm sóc. Tuy nhiên, vì
sự the opposition of the general population, họ đã khởi sự một ‘phòng khám
lưu động’ cho những bệnh nhân này. Sau đó các sisters sẽ có thể mở một trung
tâm phục hồi ‘self-sufficient rehabilitation center’ cho các bệnh nhân này,
mang tên Titagahr và Shanti Nagar, ở ngoại ô của Calcutta.
Năm 1962 : Mẹ Têrêsa được ca ngợi tại Châu Á. Mẹ
Têrêsa đã được vinh dự với giải thưởng Padna Sri (Oder of the Lotus) do
chính phủ Ấn Độ trao tặng và giải thưởng Magsaysay của hiệp hội quốc tế
SEATO Đông Nam Á. Mẹ đã công bố là người phụ nữ xứng đáng nhất của Châu
Á. Tuy nhiên, tại các nước phương tây, Mẹ vẫn chưa được nhiều người biết
đến.
Ngày 1/2/1965 : Dòng Thừa Sai Bác Ái nhận được sự công nhận ở những
nơi xa hơn. Cho đến nay, dòng Thừa Sai
Bác Ái đã được thành lập mười lăm năm. Họ đã phát triển và
lan rộng một cách mạnh mẽ khác thường. Có khoảng ba trăm nữ tu trong hội
dòng, gồm các nữ tu thuộc các quốc gia châu Âu khác nhau, và có rất nhiều
nhà. Tất cả các nhà của dòng Thừa Sai Bác Ái đều được mở ở Ấn độ dưới quyền
của các giám mục địa phương. Với lời đề nghị của nhiều giám mục, Đức Thánh
Cha Phaolô VI quyết định ban thưởng lời ca ngợi đến dòng Thừa Sai Bác Ái,
ban phép cho ‘mở rộng’ hội dòng đến những những giáo phận khác ở xa hơn.
Quyết định này, cùng với lời mời của Tổng giám mục Barquisimeto ở Venezuela,
xin Mẹ mở nhà trong giáo phận của ngài, đã cho phép dòng Thừa Sai Bác Ái
lan rộng những công tác bác ái của mình.
Từ năm 1965-1971 : Nhiều nhà mới đã đựoc mở khắp nơi trên
thế giới. Nhà
tại Venezuela là nhà đầu tiên mà Mẹ Têrêsa mở tại nước ngoài.
Trong suốt những năm sau đó, nhiều nhà khác đã được mở ở Phi Châu, Úc Châu
(ở Melbourne và Adelaide), và ở Châu Âu (ở Anh và ở Ý) theo lời mời thúc
bách của các giám mục tại những địa phương này. Căn nhà đầu tiên được mở
tại Rôma, nước Ý là sự đáp trả lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI,
với tư cách là vị giám mục Rôma. Đức Thánh Cha là một người rất ngưỡng mộ
và cũng là nhà tài trợ giúp đỡ cho các công việc của Mẹ Têrêsa. Đến năm
1971 dòng Thừa Sai Bác Ái đã có năm mươi nhà.
Ngày 26/3/1969 : Hội CộngTác Viên của dòng Thừa Sai Bác Ái
được chính thức thành lập. Hội Cộng Tác viên
của Mẹ Têrêsa, một tổ chức quốc tế những người làm công tác từ thiện đã
trở thành một thực tại tinh thần và là một yếu tố quan trọng làm đẩy mạnh
các công việc của dòng Thừa Sai Bác Ái. Thật khó, nếu như không thể, biết
chắc số thành viên của hội này vì nó thường gia tăng liên tục, và cũng vì
các nữ tu cũng không để ý giữ các số liệu chính xác. Thực ra đã có hội cộng
tác này từ khi dòng Thừa Sai Bác Ái mới được thành lập. Ngày 3/3/1969, Đức
Giáo Hoàng Phaolô VI đã phê chuẩn hiến pháp cho Hiệp hội Cộng Tác viên và
do đó họ đã chính thức trở thành những hội viên của dòng Thừa Sai Bác Ái.
Ngày 12/7/1972 : Mẹ của Mẹ Têrêsa, Bà Drana Bernai, qua đời
tại Albania. Bà
đã muốn rời Albania để gặp lại con gái và cũng như người
con trai, đang sống tại Sicily, trước khi nhắm mắt. Nhưng chính phủ Albania
đã từ chối không cho phép bà ra khỏi nước.
Năm 1974 : Người chị duy nhất của Mẹ Têrêsa, Aga Bojaxhiu, qua đời. Chị
của Mẹ cũng qua đời tại Albania và cũng không có cơ hội gặp
mặt các em lần cuối.
Những năm trong thập niên 80 : Mẹ Têrêsa nhận được các giải
thưởng lớn của quốc tế. Suốt những năm của
thập niên 80, nhà văn và microphone of Malcolm Muggeride, một nhà báo người
Anh, đã làm Mẹ Têrêsa trở nên nổi tiếng khắp các nước phương Tây, không
chỉ trong giới công giáo những còn lan rộng trong các lĩnh vực khác ngoài
xã hội. Kết quả là Mẹ đã nhận được giải thưởng Người Samaritanô Nhân Hậu
của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, giải thưởng Thái Dương vì Sự Phát Triển của
Tôn Giáo ở Anh, và giải thưởng Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tại
Vatican. Ngày 17/10/1979, Mẹ Têrêsa đã được thưởng giải thưởng cao quí nhất
của quốc tế : Giải Nobel Hoà Bình. Thế nhưng, sự giản dị và khiêm tốn thường
ngày của Mẹ cũng không vì thế mà thay đổi.
Ngày 10/12/1979 : Mẹ Têrêsa đã nhận giải thưởng Nobel Hoà
Bình. Mẹ
Têrêsa đã nhận giải Nobel Hoà Bình từ tay Vua Olaf thứ V
của Na-uy, nhân danh những người nghèo mà Mẹ đại diện và đã dành cả cuộc
đời để phục vụ yêu thương.
Từ năm 1980-1985 : Dòng Thừa
Sai Bác Ái đã mở thêm nhiều nhà mới và gia tăng nhiều ơn gọi mới. Năm 1980 có mười bốn nhà ở ngoài nước
Ấn Độ tại nhiều nơi khác nhau như Lebanon, Tây Đức, Yugoslavia, Mexicô,
New Guinea, và Argentina. Sau khi được trao thưởng giải Nobel Hoà Bình,
tốc độ bành trướng của dòng Thừa Sai Bác Ái thật đáng kinh ngạc: mười
tám nhà mới được mở thêm năm 1981, mười hai nhà năm 1982, và năm 1983
mười bốn nhà nữa được thành lập. Sự gia tăng ơn gọi nhanh chóng đã làm
cho Hội dòng trở thành một trường hợp ngoại lệ trong thời đại mà những
ơn gọi tu trì mới đang trở nên ngày càng hiếm hoi với các dòng tu.
Từ năm 1986-1989 : Dòng đã thâm nhập vào các quốc
gia trước đây đã từ chối các thừa sai. Dòng Thừa Sai Bác Ái đã được phép mở nhà tại Ethiopia,
và Nam Yemen. Họ cũng được phép tới Nicaragua, Cuba và Liên
Xô, nơi mà chính phủ đang quảng bá mạnh mẽ học thuyết vô thần. Tại Liên
Xô, một trong những kết quả của cuộc cải tổ kinh tế chính trị của tổng
thống Mikhail Gorbachev là cho phép Mẹ Têrêsa mở một nhà tại thủ đô Mas-cơ-va.
Tháng 2/1986 : Đức Giáo hoàn Gioan Phaolô II đã đến
Calcutta. Đức
Thánh Cha đã đến thăm Mẹ Têrêsa và đã trực tiếp đi thăm các
công việc của Hội dòng.
Ngày 21/5/1988 : Dòng Thừa Sai Bác Ái đã mở một nhà tại Vatican. Dòng
mở một nhà cho những người vô gia cư ở Rôma tại Vatican.
Nhà được đặt tên là “Quà của Đức Mẹ” để tưởng niệm Năm Thánh Mẫu. Nhà có
bảy mươi hai giường cho đang ông và đàn bà và hai phòng ăn, một cho những
người tạm trú và một cho những người qua đêm. Nhà cũng có một phòng khách,
một bệnh xá và một hàng hiên rộng hướng về hội trường Đức Giáo Hoàng Phaolô
VI.
Từ năm 1988-1989 : Mẹ Têrêsa đã nhập viện hai lần
vì chứng đau tim. Đây
không phải là lần đầu tiên Mẹ làm việc quá sức đến kiệt lực
và phải nằm viện. Thậm chí Đức Thánh Cha đã xin Mẹ hãy chăm sóc sức khoẻ
cho mình cẩn thận hơn. Các bác sĩ của Mẹ đã đặt một máy điều hoà nhịp tim
trong lồng ngực và nói Mẹ chỉ còn sống khoảng sáu tháng nữa.
Ngày 16/4/1990 : Mẹ Têrêsa nhường chức Bề trên Tổng quyền
dòng TSBA. Viện
dẫn lý do chính đáng là sức khoẻ đã suy yếu, Mẹ Têrêsa đã
nhường chức Bề trên tổng quyền của Hội dòng. Được giảm bớt những trách nhiệm
nặng nề, Mẹ đã có thể dành nhiều thời gian hơn để đi thăm các nhà của hội
dòng ở khắp nơi.
Tháng 9/1990 : Mẹ Têrêsa được mời gọi ra khỏi
sự nghỉ ngơi và được tái bầu làm bề trên tổng quyền của dòng Thừa Sai Bác
Ái.
Nhận thức sự lãnh đạo và sự khôn ngoan đạo đức có một không
hai của Mẹ Têrêsa, các sisters dòng Thừa Sai Bác Ái đã bầu
lại Mẹ Têrêsa làm Bề trên Tổng quyền, mặc dù Mẹ đã tám mươi tuổi và sức
khoẻ đã suy yếu.
Tháng 1/1991 : Mẹ Têrêsa đã yêu cầu khẩn thiết
hai nguyên thủ quốc gia hãy ngăn chặn chiến tranh vùng Vịnh. Tổng thông George Bush và tổng
thống Saddam Hussein đã nhận được lời yêu cầu khẩn thiết
nhân danh “những người vô tội” chỉ một khoảnk khắc trước khi chiến tranh
nổ ra. Hai toán các sisters đã đi đến Baghdad để cứu giúp các nạn nhân
của cuộc chiến này.
Từ năm 1991-1993 : Sức khoẻ của Mẹ Têrêsa đã suy
yếu. Quả tim yếu
ớt của Mẹ đã làm Mẹ đột quỵ trước tiên ở Tijuana, Mexicô,
và sau đó lại xảy ra ở Delhi, Ấn Độ. Bất chấp sự đau đớn
và khó thở, Mẹ đã cố trấn tĩnh khi được mời quay trở lại
Beijing hồi tháng 10/1993.
Ngày 30/8/1993 : Hội Cộng Tác Viên giải tán. (?) Hiệp hội Cộng
Tác Viên đã cộng tác và chia sẻ công việc của dòng Thừa Sai
Bác Ai trong hai mươi lăm năm. Sức khoẻ không ổn định của Mẹ Têrêsa đã thúc
dục Mẹ hướng dẫn việc chỉ có những người làm việc trực tiếp với dòng Thừa
Sai Bác Ái sẽ tiếp tục được gọi là những Cộng Tác Viên. Tất cả những người
khác sẽ không còn bị ràng buộc với hội dòng nữa.
Ngày 3/2/1994 : Bữa Điểm Tâm Cầu Nguyện Quốc Tế tại
Washington D.C. Được
tổng thống Clinton và phó tổng thống Gore củng cố, Mẹ Têrêsa
đã phát biểu trong Bữa Điểm Tâm Cầu Nguyện Quốc Tế trước
hàng ngàn quan chức cao cấp đang sửng sốt nghe Mẹ nói về sứ điệp bảo vệ
sự sống và kêu gọi hoà bình. Sau đó, tổng thống đã cám ơn vì “cuộc đời tận
tuỵ của Mẹ”, một sự tận tuỵ - ông nói - mà Mẹ đã sống cách thực sự.
    
CHƯƠNG BA
CÔNG VIỆC CỦA MẸ : MỘT CUỘC ĐÀM THOẠI
Trong cuộc phỏng vấn này, Mẹ Teresa đã thành thật nói về hội dòng mà Mẹ đã thành lập, về các công cộng của Mẹ đang lan rộng khắp nơi với “những người nghèo nhất trong những người nghèo”, và về niềm tin của Mẹ. Đó là nền tảng của những cuộc nói chuyện giữa Mẹ và Jose Luis Gonzaler-Balado diễn ra ở Tây Ban Nha giữa những năm 1976-1980.
Q : Thưa Mẹ Teresa, Mẹ có thấy dễ dàng khi thực hiện các công việc giữa những người nghèo không ?
MT : Dĩ nhiên là không dễ dàng nếu không có một đời sống cầu nguyện mạnh mẽ vfa một tinh thần hy sinh xả kỷ. Điều đó cũng không dễ dàng nếu chúng tôi không nhìn thấy trong người nghèo hình ảnh Đức Kitô vẫn đang chịu đau khổ vì cuộc tử nạn của Ngài. Đồng thời, chúng tôi cũng cảm thấy hạnh phúc nếu chúng tôi làm cho người nghèo được sống trong hoà bình với nhau. Thật khó cho những người đang thiếu thốn sống hài hoà và giúp đõ nhũng người thân cận, và không xem họ như những đối thủ nguy hiểm, có thể làm cho tình trạng khốn khó của họ trở nên tồi tệ hơn ! Đó là lý do tại sao chúng tôi chẳng thể cho họ điều gì cả ngoại trừ đời sống chứng nhân đầy tình yêu thương, nhìn thấy Đức Kitô nơi mỗi người trong họ, không kể bề ngoài họ xấu xa hay đáng ghét như thế nào.
Q : Làm sao mà Mẹ có thế có được nhiều ơn gọi như vậy ?
MT : Chính Thiên Chúa là người đã gửi họ đến với chúng tôi. Họ đến và xem. Có một số người đến từ rất xa. Hầu hết họ nghe nói về công việc của chúng tôi qua việc đọc báo.
Q : Với các nữ tu Mẹ đang có, Mẹ có thực hiện được tất cả những gì Mẹ muốn không?
MT : Thật không may, những nhu cầu thì luôn luôn vượt quá khả năng của chúng tôi.
Q : Thưa Mẹ Teresa, điều gì đã khiến Mẹ liên tục mở thêm các nhà mới ?
MT : Nếu Thiên Chúa tiếp tục gửi cho chúng tôi thêm những ơn gọi chắc chắn, chúng tôi tin rằng Thiên Chúa gửi cho chúng tôi những ơn gọi đó để họ ẩn mình trong tu viện. Đúng hơn, Thiên Chúa muốn tăng thêm những công việc giúp cho những người nghèo khó.
Q : Tiêu chuẩn nào Mẹ dùng để mở những nhà mới ở Ấn Độ cũng như ở nước ngoài ?
MT : Chúng tôi không bao giờ mở nhà mà không có lời mời của Đức giám mục ở địa phương đó. Thực ra, những lời thỉnh cầu xin giúp đỡ vào lúc này đã vựot quá sức chúng tôi. Theo như luật chung đã ấn định trong Hiến luật của hội dòng, thì khi chúng tôi nhận một lời mời mở một nhà mới, trước tiên chúng tôi phải đi đến và xem xét những điều kiện sinh sống của người nghèo tại vùng đó. Chúng tôi không bao giờ quyết định mở một nhà vì bất cứ lý do gì khác hơn là phục vụ người nghèo. Thường thường, quyết định bắt đầu một nhà mới luôn dựa theo những xem xét này, ngoại trừ những trường hợp khẩn thiết nhất.
Q : Theo Mẹ, hình thức ăn mặc bên ngoài có quan trọng không ?
MT : Điều này không quan trong hoặc chỉ là vấn dề nhỏ. Vì như tu phục của chúng tôi, bộ sari là một cách ăn mặc rất thông thường, chúng tôi sẽ sẵn lòng thay đổi hoặc thôi không mặc nữa nếu chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi không được chấp nhận vì đã ăn mặc theo lối ấy. Chúng tôi có thể thích nghi với một kiểu tu phục khác nếu nó được người nghèo tiếp nhận hơn ở bất cứ nơi nào chúng tôi cảm thấy được mời gọi để thực thi sứ mạng của mình.
Q : Điều gì đã cho Mẹ sức mạnh để làm những công việc của Mẹ ?
MT : Chúng tôi đã được dạy ngay từ lúc bắt đầu phải khám phá Đức Kitô ẩn mình dưới hình thức đau khổ của người nghèo, ngưòi đau yếu, người bơ vơ không nhà cửa. Chúa Kitô đang hiện diện trước chúng ta dưới nhiều cách thức ẩn giấu : trong người hấp hối, người bại liệt, người bị phong, người tàn tật và các em cô nhi. Chính đức tin đã làm nên công việc của chúng tôi, đức tin đòi hỏi một sự chuẩn bị đặc biệt và một tiếng gọi đặc biệt, để chúng tôi có thể chấp nhận dễ dàng hoặc ít nhất có thể chịu đựng được. Không có đức tin, công việc của chúng tôi có thể trở thành một cản trở cho đời sống tu trì của chúng tôi vì chúng tôi sẽ trở nên những con người phạm thượng, ác ôn và vô đạo trong mọi việc.
Q : Trong công việc của Mẹ, vấn đề tu trì quan trọng như thế nào ?
MT : Chúng tôi không đơn giản là những người làm công tác xã hội, chúng tôi là những thừa sai. Tuy nhiên, chúng tôi cố gắng rao truyền Tin mừng qua những công việc của chúng tôi, để Thiên Chúa được mọi người biết đến. Chúng tôi dạy giáo lý cho các trẻ em trong các nhà cô nhi của chúng tôi. Chúng tôi chỉ dạy nhưng người lớnWe only take the initiative with adults khi họ xin những lời chỉ dẫn hoặc khi họ hỏi chúng tôi về những vấn đề tôn giáo. Tất cả các nữ tu của chúng tôi đều đã được học hỏi kỹ lưỡng trong suốt thời gian Tập Viện và tiếp tục được huấn luyện trong những năm sau đó. Chúng tôi không thích lấy chỗ của những người thông thạo hơn chúng tôi về một vài vấn đề nào đó. Chẳng hạn, chúng tôi chuyển những vấn nạn khó khăn hơn đến các linh mục nếu các vấn nạn đó rõ ràng liên quan đến công việc của các ngài. Vì theo như tiêu chuẩn mà chúng tôi quyết định để giúp đỡ ai, Chúng tôi không bao giờ giúp đỡ ai mà căn cứ vào vấn đề tín ngưỡng của họ, nhưng chỉ dựa theo những nhu cầu của họ. Chúng tôi không quan tâm đến vấn đề tín ngưỡng của những người chúng tôi giúp đỡ. Chúng tôi chỉ tập trung xem nhu cầu đó khẩn cấp như thế nào.
Q : Dòng Thừa Sai Bác Ái có sự thiên vị nào giữa những người họ phục vụ không?
MT : Nếu có sự thiên vị nào, thì đó là cho những người nghèo khổ, những người bị bỏ rơi nhất, những người không có ai chăm sóc, những trẻ cô nhi, những người hấp hối, và người phong cùi.
Q : Theo một số người, công việc của dòng Thừa Sai Bác Ái trong nhà hấp hối chỉ kéo dài sự khốn khổ cho những người được chăm sóc. Nhưng người được phục hồi sức khoẻ lại quay trở lại đường phố nơi họ sẽ chạm trán với những sự khốn khó và bệnh tật. Đâu là suy nghĩ của Mẹ về điều này ?
MT : Bất cứ khi nào có thể, chúng tôi luôn cố gắng không để giới hạn sự chăm sóc của chúng tôi chỉ là những chăm sóc về y tế. Chúng tôi cố gắng lấy lại sự phục hồi nhân cách và phẩm vị xã hội của những người đã lấy lại sức khoẻ. Đúng là trong nhiều trường hợp, những người đã được phục hồi thích sự tự do ngoài đường phố hơn những khoảng không gian bao bọc của chúng tôi, nhưng đó là điều mà chúng tôi không thể ngăn cản. Chúng tôi hoạt động trong sự xác tín rằng mỗi khi chúng tôi nuôi ăn những người nghèo là chúng tôi đang dâng thức ăn cho Chúa Kitô. Bất cứ khi nào chúng tôi cho người nghèo áo quần mặc là chúng tôi đang làm cho chính Đức Kitô. Bất cứ lúc nào rước người nghèo khó hấp hối vào nhà là chúng tôi làm điều đó cho chính Đức Kitô.
Q : Có những người quả quyết rằng những phưông tiện y tế đang được sử dụng trong dòng THừa Sai Bác Ái thì quá thô sơ đối với những người đang phải chữa trị những căn bệnh nặng.
MT : Tôi biết điều đó. Những phương tiện y tế của chúng tôi có giới hạn, nhưng chúng tôi cố gắng giúp đỡ và chăm sóc cho những người, hầu hết các trường hợp, không có ai cho họ dù chỉ là những chăm sóc y tế tối thiểu nhất.
Q : Người ta cũng nói rằng những chăm sóc mà các nữ tu đang làm cho những người không còn hy vọng thì nên làm điều đó cho những người có cơ hội sống sót nhiều hơn.
MT : Chúng tôi cố gắng giúp cho tất cả những ai cần được chăm sóc, nhưng thường khi chúng tôi ưu tiên cho những người cần được chăm sóc nhất. Chúng tôi không quay lưng với bất cứ ai. Không ai bị chúng tôi bỏ quên không phục vụ. Trong mỗi người anh em đang đau khổ chúng tôi nhìn thấy chân dung của Chúa Kitô đang đau khổ trong họ. Cho dù nếu chúng tôi phải thu hẹp sự chăm sóc của chúng tôi cho một số người, vì sự cần thiết hay vì nguồn nhân lực giới hạn, thì mơ ước của chúng tôi luôn là lan toả lòng bác ái.
Q : Đôi khi, các sisters cũng không thể làm gì nhiều cho những người hấp hối, đúng không thưa Mẹ ?
MT : Ít nhất chúng tôi cũng để lại cho họ một cảm tưởng quan trọng : rằng có những người sẵn lòng yêu thương chăm sóc họ, bởi vì những người hấp hối cũng là con cái Thiên Chúa, và họ xứng đáng được yêu thương như và thậm chí hơn bất cứ người nào khác.
Q : Mẹ không cảm thấy sự xấu xa ghê sợ trong chừng ấy những đau thương khốn khổ sao ?
MT : Có, chúng tôi thực thi sứ mạng của chúng tôi phần lớn là giữa những người hấp hối, những người già bị bỏ rơi, các trẻ em mồ côi, và những người phong. Chúng tôi không thể phủ nhận rằng trong nhiều trường hợp công việc thật nặng nề khó chịu. Không phải lúc nào chúng tôi cũng làm việc trong những điều kiện thuận lợi dễ dàng. Song, chúng tôi cảm thấy được diễm phúc hơn khi làm việc giữa những người nghèo túng hơn là với những người giàu có. Đó là công việc suốt đời của chúng tôi. Trong suốt thời gian Nhà Tập, kéo dài hai năm, chúng tôi dành nửa ngày để làm việc giữa những người nghèo khó. Những tập sinh làm việc dưới sự giám sát của các sisters lớn hơn. Trước khi tuyên lời khấn trọn đời, chúng tôi phải sống nhiều năm nữa phục vụ người nghèo. Công việc này hầu như trở thành một thói quen đối với chúng tôi, chúng tôi làm điều này dễ dàng, theo bản năng, và một cách tự nhiên, nhưng không máy móc.
Q : Theo Mẹ, sứ mạng yêu thương phục vụ có ý nghĩa như thế nào ?
MT : Sự phục vụ của chúng tôi không chỉ giới hạn vào việc làm giảm bớt những đau thương về phương diện thể lý. Chúng tôi muốn trao tặng bất cứ điều gì cần để người nghèo không càm thấy mình bị bỏ rơi, và rồi họ nhận ra rằng có những người đang yêu thương chăm sóc họ. Chúng tôi muốn ông việc của chúng tôi hoàn tất điều mà một viên chức cấp cao trong đất nước chúng tôi đã nói với các sisters: “Chính Đức Kitô đang cùng đi giữa chúng ta để làm những việc tốt lành vì thương mến con người.”
Q : Mẹ đã làm gì cho những bệnh nhân phong ?
MT : Chúng tôi đang chăm sóc và giúp cho hơn hai ngàn đang khổ sở với căn bệnh này chỉ riêng tại Calcutta, và khoảng năm mươi ngàn người nữa trên khắp Ấn Độ. Chúng tôi biết rằng chừng ấy chẳng là gì trong một quốc gia có bốn triệu nạn nhận của bệnh phong. Việc đầu tiên chúng tôi làm cho những nhận sự giúp đỡ của chúng tôi là thuyết phục họ tin rằng họ thật sự đang mắc căn bệnh này. Chúng tôi tìm những thuốc men cần thiết và cố gắng chữa trị cho họ. Ngày nay, những người mắc bệnh phong không cần phải sống cô lập ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Nếu chúng tôi có thể giúp họ kịp thời, họ có thể được chữa lành. Vì thế, điều mà các nữ tu cố gắng làm trước hết là thuyết phục mọi người hãy đương đầu với căn bệnh này. Ở Ấn Độ, bệnh phong hủi bị xem như là một sự trừng phạt của Thiên Chúa. Đó là phần tín ngưỡng của một số người. Các nữ tu của chúng tôi cố gắng làm mọi việc có thể để chữa trị cho họ và giúp họ thoát khỏi sự mê tín này.
Q : Thưa Mẹ, thuốc men cho mỗi người bệnh phong khoảng bao nhiêu ?
MT : Sự thật, chúng tôi không phải trả tiền thuốc. Thuốc men được mang đến cho chúng tôi. Chúng tôi nhận thuốc từ nhiều nơi, bắt đầu từ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, từ nước Đức, nước Pháp, nước Anh và Thuỵ Sĩ. Bất cứ từ đâu đến thì chúng cũng không mang giá tiền là bao nhiêu. Tôi không có ý tưởng chính xác tiền thuốc cho mỗi người bệnh phong trị giá bao nhiêu.
Q : Mẹ có nhận đựơc đủ thuốc để giúp cho người phong không ?
MT : Có, ít nhất là trong lúc này, cũng như những loại thuốc liên quan. Chúng tôi cũng phải mua thêm thuốc viên vitamin, thuốc giảm đau, và một vài thứ nữa. Bên cạnh những thứ này, dĩ nhiên, chúng tôi cần những sự viện trợ khác như quần áo, băng gạc, những tiện nghi tối thiểu, thuốc khử trùng, chất khử mùi và thuốc dùng cho da.
Q : Mẹ đã nhận được những sự trợ giúp này đặc biệt từ đâu ?
MT : Từ mọi người, tạ ơn Chúa. Chúng tôi có những người Hinđu, người Hồi giáo, người Ba Tư, người Do Thái, Phật giáo, Tin Lành, và tất nhiên Hội Cộng Tác Viên công giáo và những ân nhân.
Q : Có bao giờ Mẹ nghĩ rằng Mẹ sẽ kết thúc những công việc của mình mà không có những nguồn trợ giúp không ?
MT : Chúng tôi không bao giờ có dư thừa, nhưng cũng chưa bao giờ thiếu thốn những thứ chúng tôi cần. Thỉnh thoảng điều này xảy ra rất kỳ khôi, hầu như là phép lạ. Chúng tôi thức dậy mà trong nhà không còn một chút lương thực, thuốc men, chúng tôi lo lắng vì không có gì cho những người nghèo túng. Một vài giờ trôi qua, tất cả chúng tôi đều chững kiến những thực phẩm lớn được đem đến cho cho chúng tôi từ những người vô danh. Từ những người Công giáo, những người Tin lành, Phật giáo, người Do Thái, người đạo Ba tư, Hồi giáo và người Hinđu. Từ những người ủng hộ thuộc bất cứ tôn giáo nào hoặc không tôn giáo. Từ những người giàu và cả những người nghèo.
Q : Công việc của Mẹ đạt được như thế nào ?
MT : Làm việc hay chính công việc không quan trọng, nhưng sự quan trọng là lòng khiêm tốn. Chúng tôi nghĩ rằng giá trị của những công việc đến từ tinh thần yêu thương vì Chúa, đó chính là nguồn gợi hứng cho công việc của chúng tôi. Thật không thể yêu mến Thiên Chúa mà không thương yêu anh em mình. Đồng thời, không một Thừa Sai Bác Ái nào được quên lời của Đức Kitô: “Khi Ta đói các con đã cho Ta ăn” (x Mt 25,35). Đây la điều mà chúng tôi đang cố gắng thực hiện: nuôi ăn, cho áo mặc và thăm viếng Chúa Kitô trong những người đau yếu, người sắp chết, người phong, và các trẻ em bị bỏ rơi.
Q : Mẹ có thể nói về công việc của mẹ với các trẻ em bị bỏ rơi không ?
MT : Có, chúng tôi đã bắt đầu công việc với các em này, và hiện giờ chúng tôi vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc các em, cho dù đây không phải là công tác duy nhất của chúng tôi. Tiếc thay, các trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi không bao giờ hết trong xã hội chúng ta. Vào năm đầu tiên khi chúng tôi bắt đầu công việc, lần kia một viên cảnh sát mang đến chỗ chúng tôi một đám trẻ bị bắt vì tội ăn cắp. Chúng còn quá trẻ để bỏ tù với những tôi phạm khác. Tôi hỏi chúng tại sao chúng lại làm như vậy. Chúng giải thích rằng mỗi ngày từ năm giờ đến tám giờ tối chúng được người lớn dạy cho cách phải ăn cắp như thế nào.
Q : Những trẻ em mà Mẹ đang cứu giúp có tương lai gì không ?
MT : Tôi không tin có cách nào tốt hơn để giúp cho Ấn Độ hơn là việc chuẩn bị một ngày mai tốt lành hơn cho các trẻ em hôm nay. Chúng tôi chăm sóc những trẻ túng cực nhất, những trẻ được đem đến từ các khu ổ chuột. Mỗi đứa trẻ này chỉ cần tiền trợ cấp mỗi tháng vài đô-la. Thật hết sức cảm động khi thấy các trẻ em từ những nước khác nhau gửi đến cho các trẻ ở đây những đồng tiền tiết kiệm của chúng, các em là những trẻ từ nước pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ, Đan Mạch, và trẻ em người Ý. Chúng tôi mở tài khoản cho từng em mà chúng tôi nhận nuôi. Khi đứa trẻ đã lớn và nếu có khả năng, em sẽ được khuyến khích học lên nữa. Còn những em không có năng khiếu học lên cao, các em sẽ được học nghề, để sau này em có thể tự mình kiếm sống.
Q : Thưa Mẹ, các thừa Sai Bác Ái đã chứng kiến nhiều sự bất công ghê gớm. Mẹ phản ứng thế nào trước những bất công này ?
MT : Những bất công có đó và mọi người đều thấy. Điều này tuỳ thuộc vào các tổ chức rộng lớn cung cấp những phương tiện nhằm nâng cao mức sống của đám đông dân chúng đang đau khổ vì những bất công trong xã hội. Trong những tiếp xúc hằng ngày, chúng tôi đã tiếp xúc với những người bị xã hội đẩy ra ngoài. Mục đích đầu tiên của chúng tôi là giúp những người này dành lại sự phát triển cơ bản tối thiểu của con người. Chúng tôi cố gắng phục hồi nhân phẩm mà họ phải có trong tư cách con người cũng như trong tư cách là con cái của cùng một Cha. Để làm điều này, trước tiên chúng tôi không dựa vào hay nhìn xem họ là người sắp chết hay họ có cả một cuộc đời trước mắt.
Q : Mẹ có nhận được một sự trợ giúp nào từ phía chính phủ Ấn Độ không ?
MT : Chúng tôi không nhận được những trợ giúp trực tiếp, nhưng chúng tôi phải thừa nhận rằng chính phủ đã giúp đỡ chúng tôi trong những cách thức rất hữu hiệu, đó là sự tin tưởng, lòng quí mến và tôn trọng họ dành cho chúng tôi. Điều này đã giúp chúng tôi trong nhiều việc, như việc cung cấp đất cho những công việc của chúng tôi, và miễn phí cho chúng tôi những chuyến đi lại bằng xe lửa.
Q : Hội dòng của Mẹ có nhận được bất cứ sự miễn thuế nào từ chính phủ Ấn Độ không ? Mẹ có được phép nhập khẩu mọi thứ miễn phí không ?
MT : Không, không phải mọi thứ, chỉ có thức ăn, thuốc men, những dụng cụ y khoa, quần áo, và những thứ cần cho công việc của chúng tôi như : đồ gỗ, máy đánh chữ, và máy may. Chúng tôi vẫn cần có giấy phép nhập khẩu. Chúng tôi nhận những thứ này như quà tặng, và tất cả được đưa tới cho người nghèo. Không có gì là việc buôn bán thương mại. Tất cả những thứ đó đều được gửi tới cho những người đang cần chúng, không kể họ thuộc chủng tộc, tín ngưỡng hay tôn giáo nào. Và có quá nhiều người thiếu thốn đang cần được giúp đỡ ! Điều duy nhất chúng tôi phải làm là nói rõ cho chính phủ biết rằng NHững thứ đó là những quà tặng miễn phí. Từ khi nhà nước nhìn thấy nơi mà mọi thứ được phân phát, họ đã cấp cho chúng tôi những giấy phép cần thiết. Họ nhận ra rằng chẳng có thứ gì đi vào túi riêng của chúng tôi. Mọi thứ đã được trao tặng lại cho những người nghèo. Đó là lý do tại sao họ tin tưởng và cho chúng tôi những phép cần thiết.
Q : Mẹ xử lý thế nào với những gì đã nhận được ?
MT : Cúng tôi có một sổ ghi chép tất cả những chi tiêu cũng như những gì chúng tôi nhận được, và đánh dấu những món quà gửi tới cho mục đích gì. Chẳng hạn, nếu có ai đó tặng một trăm ru-pi để giúp cho người phong, thì chúng tôi sẽ không được dùng tiền đó để làm điều gì khác. Chúng tôi luôn cố gắng thực hiện những ước nguyện của người cho.
Q : Dường như chính phủ Ấn Độ đang gia tăng việc hạn chế thu nhận những thừa sai nước ngoài. Dòng của Mẹ có bị ảnh hưởng không ?
MT : Chúng tôi là một tổ chức bản xứ Ấn Độ. Nhà Mẹ của chúng tôi ở Ấn Độ. Vì thế chúng tôi không rơi vào những sự hạn chế đó. Đồng thời chúng tôi cũng tránh rao giảng phúc Âm bằng những phương tiện khác ngoại trừ qua công việc của chúng tôi. Công việc chúng tôi làm chính là những lời chứng của chúng tôi. Nếu có ai đó được chúng tôi giúp đỡ muốn trở thành người công giáo, thì họ phải đến gặp một linh mục. Nếu công việc của chúng tôi có phần thánh thiện, thì cũng chẳng còn gì lớn lao hơn là chúng tôi mang tất cả những người chúng tôi liên hệ đến gần Thiên Chúa hơn.
Q : Mẹ có nhận được sự giúp đỡ nào từ những người khác không ?
MT : Ồ, có chứ ! Chúng tôi đã hy vọng vào sự giúp đỡ của người khác ngay từ buổi đầu thành lập. Chúng tôi gọi họ là những Cộng Tác Viên. Chúng tôi có rất nhiều nhóm Cộng Tác Viên, bắt đầu là các trẻ em từ các quốc gia khác đã chia sẻ tiền tiết kiệm và những số tiền các em đã vận động quyên góp được cho các trẻ em ở Ấn Độ. Mặc dù chúng tôi, những Thừa Sai được nhiều người biết tới, thực sự, chúng tôi chỉ có thể làm rất ít những công việc phục vụ nếu không có sự trợ giúp quảng đại của hàng ngàn hàng ngàn những cộng tác viên và những bạn bè khắp nơi trên thế giới.
Q : Không phải tất cả các dòng tu đều biết trung thành gìn giữ linh đạo của hội dòng ngay từ lúc ban đầu mới được thành lập. Dòng Thừa Sai Bác Ái sẽ không đánh mất linh đạo của mình chứ ?
MT : Lời khấn thứ Tư của chúng tôi buộc chúng tôi phải phục vụ vô vị lợi cho những người nghèo nhất trong những người nghèo. Chính lời khấn này sẽ gìn giữ chúng tôi khỏi sự nguy hiểm mà ông mới đề cập. Sứ mạng của chúng tôi quá rõ ràng đến nỗi không thể có sự hiểu lầm ở đây. Người nghèo biết họ là ai và họ đang ở đâu. Họ là lý do cho hội dòng và công việc của chúng tôi. Trong Đức Kitô, họ là nguyên do cho sự tồn tại của chúng tôi.
Q : Có bao giờ Mẹ bị cám dỗ với ý nghĩ làm việc với những người giàu có, nơi mà mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng hơn cho hội dòng ?
MT : Những người nghèo là lý do cho sự tồn tại của chúng tôi. Hội dòng chúng tôi được sinh ra cho họ và chúng tôi dàng trọn bản thân cho họ, không có bất cứ một sự cám dỗ từ bỏ nào.
Q : Hội dòng Thừa Sai Bác Ái đã trải qua sự phát triển như thế nào ?
MT : Như tôi đã nói, chúng tôi không có một sự khủng hoảng nào về ơn gọi. Thiên Chúa rất quảng đại với chúng tôi và Ngài đã gửi đến cho chúng tôi những ơn gọi. Trong số những phụ nữ đến xin gia nhập dòng chúng tôi, có những người đã tốt nghiệp đại học, trong khi đó cũng có những người thuộc tầng lớp lao động. Vì như hội dòng chúng tôi là nhóm người thuộc bản xứ, phần lớn trong chúng tôi là người Ấn Độ. Nhưng cũng có những sisters người Ái Nhĩ Lan, người Ý, người Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và người Mỹ. Chúng tôi cũng có những sisters đến từ Venezuela, Mexico, Peru và Brazil. Thậm chí chúng tôi cũng có vài sisters người Châu Phi và Châu Úc.
Q : Mẹ có bao giờ có ý định tôn giáo qua công việc của Mẹ không ?
MT : Tình yêu không sứ điệp nào khác ngoài chính sứ điệp tình yêu của mình. Mỗi ngày chúng tôi cố gắng sống tình yêu Đức Kitô theo cách thức thực sự sống động trong từng hành vi của chúng tôi. Nếu chúng tôi rao giảng, thì việc rao giảng ấy sẽ được làm bằng hành động, không phải bằng lời. Đó là lời chững phúc Âm của chúng tôi.
Q : Có lẽ Mẹ cần nhiều tiền để thực hiện sứ mạng của mình.
MT : Tiền bạc thì có ích, nhưng tình yêu, sự quan tâm, và những sự chăm sóc mà chúng tôi dành cho người khác là những điều quan trọng nhất. Tình yêu thương phải bắt đầu từ gia đình với những người chung quanh chúng ta.
Q : Mẹ có cảm thấy được mọi người yêu mến không ?
MT : Có, hầu hết mọi người, mặc dù nhiều người sống trong tình trạng khốn khổ đã không nhìn thấy tình yêu vô vị lợi của chúng tôi. Họ thấy rằng chúng tôi sống giữa họ và cũng sống nghèo nàn như họ. Và họ đánh giá rất cao điều đó. Ấy thế mà, mọi việc không phải lúc nào cũng được bình yên. Thỉnh thoảng cũng có những cơn ghen tỵ và khó chịu khi chúng tôi không thể cho họ mọi thứ họ cần hay họ xin; hoặc khi họ thấy chúng tôi cho những thứ họ muốn cho những người đang cần hơn họ. Khi chuyện xảy ra, chúng tôi biết rằng giải thích cho họ ngay lúc đó là điều vô ích. Tốt nhất là cứ để họ bình tĩnh lại. Một khi họ đã nguôi ngoai, họ sẽ tự thay đổi thái độ.
Q : Mẹ đã thấy trường hợp trở lại đạo Công giáo từ những người được Mẹ giúp đỡ không ?
MT : có, dã có vài trường hợp, nhưng không phải do chúng tôi trực tiếp khích lệ. Bằng việc thực hành đức ái Kitô giáo, chúng tôi được thu hút đến gần Thiên Chúa hơn và chúng tôi cũng cố gắng làm cho mọi người được hấp dẫn đến gần Chúa, mà không áp đặt một tôn giáo nào trên bất cứ ai. Khi họ đã chấp nhận yêu thương, họ chấp nhận Thiên Chúa và ngược lại cũng thế . Chứng tá của chúng tôi không là gì khác hơn điều đó. Đồng thời, chúng tôi sẽ phạm lỗi nếu quên rằng chúng tôi đang ở trên đất Ấn Độ, giữa một dân tộc rất tự hào về những truyền thống tôn giáo và văn hoá của mình. Đó chính là lý do mà họ luôn nghi ngờ bất kỳ một hình thức gia nhập đạo nào.
Q : Những Sisters Thừa Sai Bác Ái liên hệ với gia đình của họ như thế nào ?
MT : Một khi chúng tôi đã tận hiến mình để phục vụ người nghèo, thì họ sẽ trở thành người thân trong đại gia đình của hội dòng. Tất nhiên chúng tôi không từ chối những mối quan hệ ruột thịt với những thành viên trong gia đình huyết thống của mình, song sự liên hệ với họ là một điều giới hạn. Chỉ trong những tình huống rất đặc biệt, chẳng hạn như trước khi thi hành bài sai ở nước ngoài, thì chúng tôi được phép về thăm gia đình. Chúng tôi không thể làm điều dó cách dễ dàng, trước tien là vì sự nghèo khó của chúng tôi, chúng tôi không có tiền để trang trải cho chi phí lộ trình. Thứ nữa, vì không ai trong chúng tôi có thể bỏ nhiệm sở mình đang phục vụ, bỏ chăm sóc những người yếu đau, hấp hối, người bị phong và các trẻ cô nhi, khi mà họ không có ai chăm sóc.
Q : Mẹ nghĩ gì về các phần thưởng mà Mẹ đã nhận được ?
MT : luôn luôn là điều này : Tôi không xứng đáng với các phần thưởng ấy. Tôi sẵn lòng chấp nhận những phần thưởng này, không phải chỉ để thừa nhận lòng tốt của những tổ chức trao thưởng, nhưng tôi còn nghĩ về điều mà các phần thưởng này có thể mang lại ý nghĩa cho những người nghèo và những bênh nhân phong của chúng tôi. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng, những phần thưởng này sẽ giúp cho nhiều người nhận biết và sẵn lòng ưu ái cho những công việc mà chúng tôi những Thừa Sai Bác Ái đang thực hiện cho những người cùng khổ và bất hạnh nhất.
                     
PHẦN HAI
CẦU NGUYỆN TỪ SỰ SUNG MÃN (TRÀN ĐẦY) CỦA TRÁI TIM
Mẹ Teresa là một người cầu nguyện liên lỉ. Mẹ cầu nguyện với cộng đoàn của Mẹ trong môic thánh lễ buổi sáng trước khi ra đi làm việc phục vụ. Mẹ lại cầu nguyện mỗi buổi chiều trong ngôi nhà nguyện thanh tĩnh. Và Mẹ cầu nguyện suốt ngày bất cứ nơi nào Mẹ gặp gỡ chính mình.
Phần hai bao gồm ba lời kinh nguyện mà Mẹ Teresa ưa thích : một lời của một vị thánh ở thế kỷ XIII, một lời của một nhà thần học của thế kỷ XIX, và một lời được trích dẫn từ Thánh Kinh. Đây cũng là một lời kinh từ thế kỷ XIII diễn tả rất hay sự nhấn mạnh những kinh nghiệm gặp gỡ của Mẹ Teresa với với Thiên Chúa.
CHƯƠNG BỐN
XIN HÃY DÙNG CON NHƯ KHÍ CỤ BÌNH AN CỦA CHÚA
Mẹ Teresa rất thích lời kinh này. Mẹ đã kết hợp lời nguyện này vào việc tận hiến hằng ngày của hội dòng Mẹ, dòng Thừa Sai Bác Ái, và Mẹ thường xin những người đang nghe Mẹ nói cùng đọc với Mẹ Lời kinh này.
Lời kinh này được cho là do Thánh Phanxicô thành Assisi, và tất nhiên nó phản ánh rõ nét đời sống của ngài.
Phanxicô sinh năm 1181 hoặc 1182 trong một gia đình thương gia buôn vải giàu có ở trung tâm nước Ý. Ở tuổi thanh thiếu niên, cậu rất thích những bữa tiệc linh đình, những trò ranh mãnh, và những cuộc giao tranh hiệp sĩ. Nhưng khi chàng vào tuổi hai mươi, một sự thay đơi đã đến và xâm chiếm tâm hồn chàng trai trẻ. Càng ngày chàng càng cảm thấy bị lôi cuốn mãnh liệt vào đời sống cầu nguyện, sám hối và yêu thương phục vụ cho những người nghèo khổ.
Đang khi trên đường hành hương tới Rôma, Phanxicô đã gặp một người mắc bệnh phong hủi, chàng đã đổi chiếc áo mình đang mặc cho người cùi để giúp đỡ cho người bệnh và cũng để thử xem mình cảm thấy thế nào khi mặc áo của người cùi. Phanxicô đã bán những vải vóc và quần áo đẹp của cha để xây lại một ngôi nhà nguyện đổ nát gần thành Assisi (Người cha đã tước quyền thừa kế của Phaxicô vì chàng không biết buôn bán). Anh đã tập hợp quanh mình một nhóm người nghèo thường phải cầm đồ để sống còn và rao giảng cho họ về nước Thiên Chúa. Những môn đệ của Phanxicô nhanh chóng bắt đầu giảng dạy, chữa lành những bệnh nhân, và chuyên cần cầu nguyện, không những chỉ ở nước Ý những còn ở nhiều nơi như Châu Phi, miền Trung Á, và khắp các nước Châu Âu.
Thánh Phanxicô chết ở độ tuổi bốn mươi, nhưng sự đóng góp to lớn của ngài cho đạo Công giáo vẫn còn tiếp tục trong tám trăm năm qua tại các dòng tu Anh Em Hèn Mọn Phaxnicô và Dòng Chị Em Nghèo Khó Clara. Lòng mộ mến đức khó nghèo, yêu thương người nghèo khó, và tinh thần chiêm niệm sâu lắng về Chúa Kitô của ngài là nguồn gợi hứng không ngừng cho Mẹ Teresa.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa.
Để nơi đâu có oán ghét hận thù, con sẽ mang đến yêu thương;
nơi nào có bất công, con sẽ đem đến sự tha thứ;
nơi nào có nghi ngờ, con mang đến đức tin;
nơi nào có thất vọng, con mang đến hy vọng;
nơi nào có bóng tối, con mang về ánh sáng;
nơi nào có u sầu buồn bã, con mang đến an vui.
Ôi lạy Thầy chí thánh, xin hãy dạy cho con
tìm an ủi người hơn được người ủi an
tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi hiến dâng là khi được nhận lãnh
chính lúc tha thứ là khi được thứ tha
chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như một khí cụ bình an của Chúa.
Mỗi người chúng ta chỉ đơn thuần là một dụng cụ nhỏ, tất cả chúng ta-sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ và sứ mạng của mình-chúng ta sẽ biến đi.
Tất cả chúng ta hãy làm việc cho hoà bình. nhưng để có được hoà bình thì chúng ta phải học nơi Chúa Giêsu bài học trở nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Chỉ có sự khiêm nhường mới dẫn dắt chúng ta đến sự hiệp nhất, và sự hiệp nhất đưa chúng ta đến bình an. Với mục đích đó, chúng ta hãy cùng giúp nhau đến gần Thiên Chúa hơn, để chúng ta có thể học nơi Ngài sự khiêm nhường với niềm vui.
Trên hết, chúng ta muốn năm nay là năm của hoà bình. Với mục đích đó, chúng ta sẽ cố gắng nói nhiều hơn nữa với Thiên Chúa và với nhau.
Chúng ta hãy lan toả bình an của Đức Kitô như Ngài đã làm. Ngài đã gieo trồng những điều tốt lành ở khắp mọi nơi. Ngài không từ bỏ những việc làm bác ái của Ngài vì những người Pharisiêu và những người khác tẩychay Ngài và tìm mọi cách làm hư công việc của Cha Ngài. Đức Hồng Y Newman đã viết: “Xin cho con rao giảng không phải bằng giảng thuyết-không phải bằng lời nói-nhưng bằng gương sáng, bằng hấp lực, bằng ảnh hưởng từ ái, và bằng trái tim tràn đầy tình yêu thương của Chúa trong tâm hồn chúng con.”
Trên giới hôm nay có quá nhiều sự hận thù và giao chiến. Chúng ta sẽ không thể đẩy lui chúng đi với súng ống và bom đạn hay bất kỳ một thứ vũ khí nào gây thương tích. Song, chúng ta chỉ có thể làm được điều đó với những nghĩa cử và những hành động yêu thương, vui vẻ và bình an.
Với giải thưởng Nobel Hoà Bình mà tôi đã nhận được, tôi cố gắng xây thật nhiều nhà cho những người không có nhà cửa. Tôi tin chắc rằng tình yêu bắt đầu từ ngay trong gia đình. Vì thế, nếu chúng ta có thể xây cất được nhiều nhà hơn cho những người nghèo, tôi nghĩ rằng điều đó có thể tạo thêm nhiều sự yêu thương và thông cảm giữa con người với nhau. Tình yêu này sẽ giúp chúng ta mang bình an và những điều tốt lành đến cho người nghèo. Trước hết, chúng ta phải mang tình yêu đến cho hững người nghèo ngya trong gia đình ruột thịt của chúng ta. Và sau đó là cho những người bất hạnh trong đất nước của chúng ta, và rồi là cho những người nghèo khắp nơi trên thế giới. Để có thể làm được điều này, cuộc sống của các nữ tu của chúng tôi phải thấm đẫm tinh thần cầu nguyện. Họ phải sống hoàn toàn phó thác cho Chúa Kitô, như vậy họ mới có thể hiểu và chia sẻ nguồn bình an mà Thiên Chúa đã trao ban cho họ. Ngày nay, thế giưói có quá nhiều đau khổ.
Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì những cơ hội Ngià đã ban cho chúng ta trong thời đại hôm nay. Chúng ta hãy cám ơn Ngài vì giải thưởng hoà bình đã nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta đã được tạo dựng để sống trong hoà bình và an vui. Chúa Giêsu đã trở nên người phàm để mang tin vui mừng, hy vọng đến cho người nghèo. Thân phận là Thiên Chúa, Ngài đã trở nên giống chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi. Và Ngài đã tuyên bố rõ ràng rằng Ngài đã đến để đem tin vui mừng cho nhân loại. Tin Mừng đó là sự bình an của Thiên Chúa cho tất cả những ai có lòng ngay. Bình an đó là điều cơ bản làm thoả mãn những ước mơ cơ bản nhất của chúng ta. Đó là bình an trong tâm hồn chúng ta.
Công việc yêu thương của chúng ta chẳng là gì khác hơn là công việc của hoà bình. Chúng ta hãy làm những công việc này với tình yêu và nguồn năng lực lớn hơn. Lúc nào cũng chính là Chúa Kitô đang nói :
Ta đói – không phải đói cơn bánh, nhưng là sự đói khát bình an đến từ tâm hồn trong sạnh.
Ta khát – không phải là khát nước, nhưng khát sự hoà bình làm thoả mãn sự ham mê chiến tranh.
Ta trần truồng – không phải là không có quần áo, nhưng là đánh mất nhân phẩm tốt đẹp của con người về thân xác của mình.
Ta không có nhà của – không phải là không có những ngôi nhà được làm bằng gạch, nhưng là không có một trái tim hiểu biết, bao bọc và yêu thương.
Trong công việc phục vụ, chúng ta rất thường bị lôi cuốn vào những cuộc nói chuyện tầm phào vô ích và những chuyện ngồi lê đôi mách. Chúng ta hãy cảnh giác, vì chúng ta rất dễ bị cám dỗ về điều này khi đi thăm các gia đình. Có khi chúng ta hỏi thăm và nói chuyện về việc làm ăn của người này người kia, và rồi quên mất mục đích thực sự cuộc viếng thăm của chúng ta. Chúng ta đến thăm các gia đình để mang bình an của Chúa Kitô, và sẽ ra sao nếu chúng ta là nguyên nhân của những phiền muộn, lo lắng ? Thiên Chúa sẽ bị tổn thương chừng nào với cách xử thế như vậy ! Chúng ta không bao giờ cho phép họ nói xấu các linh mục, các tu sĩ, cũng như những người thân cận xung quanh họ.
Nếu chúng ta thấy một gia đình trong tâm trạng không tốt và chắc chắn là sắp nói những lời thiếu bác ái, chúng ta hãy nói một lời cầu nguyện sốt sắng cho họ, rồi sau đó nói một vài điều có thể giúp họ hướng lòng về Thiên Chúa, và rồi chúng ta nên rời khỏi đó ngay lập tức. Chúng ta không thể làm được gì hữu ích cho đến khi cơn bực dọc của họ biến đi. Chúng ta phait theo nguyên tắc này đối với những ai muốn chuyện vãn làm phí phạm thời giờ quí báu của chúng ta.
Nếu mỗi người chúng ta phải luôn nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài đang ban cho chúng ta những cơ hội để yêu thương những người khác-không phải bằng những chuyện lớn lao, mà bằng những việc nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày- thì đất nước của chúng ta sẽ tràn đầy tình yêu thương của Chúa. Và sẽ đẹp biết bao khi sức mạnh của hoà bình ngự trị và phá huỷ những thế lực gây chiến tranh, tang tóc. Đẹp biết bao khi nhìn thấy niềm vui của sự sống tươi nở trong sự sống của một đứa trẻ chưa sinh ra đời ! Nếu các bạn trở nên ánh sáng này cho hoà bình thế giới, thì quả thực giải thưởng Nobel Hoà Bình sẽ là một món quà thực sự của dân tộc Na-uy. Xin Chúa chúc lành cho các bạn !
Ở đâu có hận thù, xin cho con mang đến tình thương yêu ...
* “Đây là điều răn mới của Thầy : Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (x Ga 15,12).
* “Nếu ai yêu Thầy, người ấy sẽ tuân giữ lời Thầy ... Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và chúng ta sẽ đến và ở lại trong người ấy” (x Ga 14,21-23).
Khi yêu thương người khác qua những việc làm của mình, chúng ta sẽ được gia tăng ân sủng và lớn lên trong tình thương mến của Thiên Chúa. Vì Tình yêu của Chúa Giêsu là tình yêu thương của chúng ta với nhau, nên chúng ta sẽ có thể yêu như Ngài đã yêu, và ngài sẽ mặc khải chính Ngài qua chúng ta cho mỗi người và cho thế giới; bằng tình thương yêu này, chúng ta biết chúng ta là của Ngài.
Giống như sợi dây làm nên sự hiệp nhất và ràng buộc chúng ta, người lớn với kẻ nhỏ, một sợi dây vàng, chắc chắn hơn ngàn lần mối liên hệ huyết nhục, hay những mối lợi của tình bằng hữu, bởi vì những điều này làm cho những điều xấu của thân xác và những tật xấu của tâm hồn được nhìn thấy , trong khi đó đức bác ái che đậy tất cả và dâng lên ( còn nữa ...trang 61, đoạn 2 )
Ngày nay Thiên Chúa vẫn yêu thương thế giới này qua các bạn và qua tôi. Chúng ta có là tình yêu thương và lòng trắc ẩn đó không ? Thiên Chúa đã chứng tỏ Đức Kitô yêu mến chúng ta, rằng Ngài đã đến để trở nên lòng trắc ẩn của Cha Ngài. Ngày nay Thiên Chúa vẫn đang yêu thương thế gian này qua các bạn và qua tôi và qua tất cả những ai là hiện thân tình của Ngài trong thế giới hôm nay.
Chúa Giêsu đã đến trong thế giới này cho một mục đích. Ngài đến để mang cho chúng ta tin vui mừng rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, rằng Thiên Chúa là tình yêu, rằng Ngài đang yêu bạn và Ngài đang yêu tôi. Ngài muốn chúng ta yêu thương nhau như chính Ngài đã yêu thương mỗi một người chúng ta. Chúng ta hãy yêu mến Ngài. Chúa Cha đã yêu mến Ngài như thế nào ? Chúa Cha đã bam Ngài cho chúng ta. Chúa Giêsu đã yêu thương bạn và tôi thế nào ? Ngài đã thương yêu bằng cách trao ban chính mạng sống của Ngài. Ngài đã trao ban tất cả những gì Ngài có -sự sống của Ngài- cho bạn và cho tôi. Ngài đã chết trên thập giá bởi vì Ngài yêu thương chúng ta, và Ngài muốn chúng ta hãy thương yêu lẫn nhau như cách thức Ngài đã thương yêu mỗi người chúng ta. Khi chúng ta nhìn lên thánh giá, chúng ta biết Chúa đã yêu thương chúng ta dường nào. Khi chúng ta nhìn vào máng cỏ, chúng ta hiểu cho đến bây giờ Ngài vẫn yêu mến chúng ta, bạn và tôi, gia đình của bạn và của mọi người với một tình yêu âu yếm dịu dàng biết bao ! Và Thiên Chúa đã yêu chúng ta với một tình yêu thật nồng nàn và âu yếm. Đó là tất cả những điều mà Chúa Giêsu đã đén và dạy dỗ loài người chúng ta: tình yêu âu yếm dịu dàng của Thiên Chúa. “Ca đã gọi con bằng chính tên của con, con là con của Ta” (x Is 43,1).
Đức ái thì kiên nhẫn, đức ái thì tử tế, không ghen tương, không hiềm thù, không kiêu ngạo, không ngang tàng. Đức ái không tìm kiếm chính mình và không bao giờ thích điều xấu xa. Đức ái không vui thích trước đau khổ của kẻ khác, nhưng vui mừng trong chiến thắng của điều lành; Đức ái thì tin tưởng, hy vọn và chịu đựng cho đến cùng (x I Cr 13,4-7). Một Thừa Sai Bác Ái phải luôn luôn tràn đầy bác ái trong chính tâm hồn mình và phải lan toả lòng bác ái này giữa những người công giáo và cả những người ngoại giáo.
Chúng ta không cần làm những điều lớn lao để chứng tỏ tình yêu của chúng ta đối với Chúa và với tha nhân. Chính cường độ tình yêu mà chúng ta đặt vào những hành vi nhỏ bé sẽ làm cho những cử chỉ đó trở nên những điều tốt đẹp trước Chúa.
Mẹ muốn các con hãy tìm kiếm người nghèo ngay trong gia đình của chúng con. Trên tất cả, tình cảm thương yêu phải bắt nguồn từ nơi đây. Mẹ muốn các con phải trở nên tin vui mừng cho nhưng người ở xung quanh chúng con. Mẹ muốn các con phải có sự liên hệ với người hàng xóm ở ngay sát cạnh nhà chúng con. Các con có biết người hàng xóm của chúng con là ai không ? Ai là những người hàng xóm của chúng con ?
Giờ đây, hơn lúc nào hết, chúng ta cần sống lời dạy bảo của Chúa Giêsu: “ Các con hãy yêu mến nhau như Cha Thầy đã yêu mến.” Chúng ta phải yêu mến nhau như Chúa Cha đã yêu mến Chúa Giêsu, với cùng một lòng thương xót, trắc ẩn, với cùng một niềm vui và bình an. Chúng ta hãy cố gắng khám phá xem Chúa Cha đã yêu mến Chúa Con như thế nào, rồi sau đó hãy cố yêu thương nhau như vậy. Hãy cố gắng khám phá với sự khiêm nhường thẳm sâu xem các bạn đã được Chúa Giêsu yêu thương thế nào. Vàd rồi khi đã nhận ra mình được Chúa Giếu yêu mến như thế nào, hãy cố gắng yêu như Ngài đã yêu.
Tình yêu mà chúng ta dành cho người khác sẽ là :
- sự quên mình, lòng quảng đại, sự dịu dàng, tế nhị, và lòng kính trọng.
- vượt qua những cái thích hoặc cái không thích, tình bạn hữu hay sự thù hằn, xứng đáng hay không xứng đáng.
- trung thành, sâu lắng, và tự do;
- khong làm tổn thương bời vì chúng ta đang quan tâm, chạnh lòng và tha thứ vì chúng ta hiểu biết.
- luôn gợi hứng, khích lệ, tin tưởng, tận tuỵ, và hy sinh cho đến cái chết trên thập giá.
“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (x Đnl 6,5). Đây là điều răn của Thiên Chúa chúng ta, và Thiên Chúa không đòi hỏi những điều không thể. Tình yêu là hoa trái, in season at all time and within the reach of every hand. Any one may gather it àd no limit it set. Mọi người đều có thể đạt tới tình yêu này qua sự nguyện gẫm, bằng tinh thần cầu nguyện và hy sinh, bằng cuộc sống nội tâm sâu sắc. Tôi có thực sự sống đời sống này chưa ?
Chúng ta không đựoc xấu hổ vì yêu Đức Kitô với cảm xúc của chúng ta. Một người phụ nữ yêu chồng mình với cả trái tim. Trong cuốn tự thuật, Bông Hoa Nhỏ đã kể chuyện về một người thân đến thăm mình. Người phụ nữ này luôn nói về chồng của mình, về mái tóc dài , về cặp mắt đẹp của chồng, v.v... Cô ấy đã bày tỏ tình yêu của mình với chồng thật tuyệt vời. Bông Hoa Nhỏ lắng nghe người phụ nữ và đã viết những lời này trong nhật ký của mình: “Con sẽ không bao giờ để một phụ nữ yêu chồng mình hơn con yêu Chúa, Ôi Chúa Giêsu Kitô!”
Chúa Giêsu đã là tất cả cho Chị. Chị đã quá gắn bó với Đức Kitô. Bạn có giống như vậy không ? Bạn có yêu Chúa Giêsu như vậy không ? Chúng ta phải yêu Chúa Kitô với tất cả cảm xúc của chúng ta. Tất cả chúng ta hãy dùng khả năng của mình để yêu mến.
Hãy trở nên một với Ngài, liên kết và hợp nhất với Ngài để không gì-tuyệt đối không có gì-có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô. Ngài thuộc về bạn và bạn thuộc về Ngài. It is as simple as that. Hãy chấp nhận tất cả những gì Ngài ban và hãy dâng cho Ngài tất cả những gì Ngài muốn với nụ cười thật tươi.
Thế nhưng chúng ta đã quên. Chúng ta có thể yêu được người phong hủi, những người mà vi trùng đã ăn cụt mất chân tay và mặt mũi bị biến dạng, nhưng chúng ta lại quên yêu thương các chị em của chúng ta khi họ tự hào hãnh diện hay là nóng nảy. Chúng ta quên rằng đó chỉ là một sự cải trang đau khổ mà con người thật là Chúa Giêsu.
Chúng ta không có một tình yêu không chia sẻ với Đức Kitô, thay vào đó, chúng ta để cho ma quỉ lừa gạt chúng ta bằng những cách thức này nọ. Chúng ta phải trở nên thánh thiện. Chúng ta phải có khả năng nhìn thấy Chúa Giêsu trong các chị em của chúng ta và trong người nghèo.
Khi Bông Hoa Nhỏ được tông phong hiển thánh, không một việc lớn lao đáng kể nào được tiết lộ trong việc phong thánh của Chị. Chị được phong hiển thánh chỉ vì một điều duy nhất. Như Đức Thánh Cha Piô thứ X đã nói: “Chị đã làm những điều tầm thường với tình yêu phi thường” - những điều nhỏ mọn với tình yêu lớn lao. Đây là điều mà bạn và tôi đã trao tặng khi chúng ta trao lời cho Chúa Giêsu. Điều này chính là lời khấn của chúng ta.
Đức tin thánh thiện của chúng ta không là gì khác tình yêu của tin mừng, mặc khải cho chúng ta tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người và đòi sự đáp trả tình yêu của con người đối với Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu”: một thừa sai phải là một thừa sai của tình yêu. chúng ta phải lan toả tình yêu của Thiên Chúa trên trái đất này nếu chúng ta muốn làm cho các tâm hồn hối hận thực sự vì tội lỗi, muốn củng cố sức mạnh cho họ trước cám dỗ, và và gia tăng lòng quảng đại cũng như mơ ước chịu đau khổ vì Chúa Kitô. Chúng ta hãy sống tình yêu của Chúa Kitô giữa mọi người, và hãy hãy nhớ những lời trong Sách Gương Phúc: “chưa dịch đựơc - trang 64, đoạn đầu)
Trong Kinh thánh chúng ta đọc thấy lòng yêu thương dịu dàng của Thiên Chúa dành cho con người, và chúng ta đọc thấy rằng Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con của Ngài đến sống như chúng ta và để mang cho chúng ta tin vui rằng Thiên Chúa là tình yêu, rằng Ngài đang yêu thương bạn và cũng yêu thương tôi. Thiên Chúa muốn chúng ta hãy yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương mỗi một người chúng ta. Khi chúng ta nhìn lên thánh giá, tất cả chúng ta biết Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta đến dường nào. Khi chúng ta nhìn vào Thánh Thể chúng ta biết Ngài đang thương yêu chúng ta biết bao nhiêu. Đó là lý do tại sao Ngài đã hiến mình trong Bánh Thánh Thể để làm thoả mãn cơn đói khát tình yêu Thiên chúa của môic người chúng ta, và sau đó, như thể điều này còn chưa đủ, Ngài còn hoá thân làm một người đói khát, một người trần truồng, một người lang thang không nhà cửa, để bạn và tôi có thể làm thoả mãn tình thương mến nhân loại của Ngài. Vì mỗi người chúng ta đã được tạo dựng cho điều đó. Chúng ta đã được tạo dựng để yêu và được yêu.
Một ngày kia khi đang đi bộ trên đường phố của thủ đô Luân Đôn, tôi nhìn thấy một người đàn ông cao, gầy đứng ở một góc đường, vể mặt thật hết sức khốn khổ. Tôi đi lại phía ông ấy, bắt tay và hoi xem ông ta có khoẻ không. Ông ngắm nhìn tôi và nói: “Ồ ! đã lâu, lâu, lâu quá rồi tôi mới cảm thấy sự ấp áp của một cái bắt tay !” Và ông ta ngồi xuống.
Một nụ thật tươi nở trên gương mặt ông ấy, bởi vì đã có ai đó tở lòng tử tế với ông ấy. Chỉ một cái bắt tay đã làm cho ông ta cảm thấy mình là con người.
Đối với tôi, ông ấy là chính Chúa Giêsu đang cải trang trong một người đau khổ, bị bỏ rơi. Tôi đã cho ông ta niềm vui vì được yêu, tôi đã cho ông ấy cảm giác đang được ai đó yêu và thương.
Vâng, cũng có ai đó đang yêu thương chúng ta – và người đó là chính Chúa.
... ở đâu có bất công, xin cho con mang lại sự tha thứ ...
Có một vài cách để chúng ta có thể thực hành sự khiêm nhường:
Nói về người khác càng ít càng tốt.
Suy nghĩ về (to mind one’s own business).
Đừng muốn điểu khiển công việc của người khác.
Tránh tò mò.
Chấp nhận sự mâu thuẫn và sự sửa lỗi một cách vui vẻ.
Vượt qua những sai lỗi của kẻ khác.
Chấp nhận sự nhục mạ và bị tổn thương.
Chấp nhận bị khinh bỉ, bị quên làng, bị người khác ghen ghét.
Không tìm kiếm để được yêu mến và được ngường mộ.
luôn tử tế và hiền lành trước những lời khiêu khích.
Không bao giờ to stand on one’s dignity.
Nhường bước trong những cuộc tranh cãi mặc dù mình đúng.
Luôn chọn những gì khó khăn, nặng nhọc nhất.
Trong thời đại phát triển ngày nay, cả thế giới hầu như đang chạy đua và lúc nào cũng vội vã. Nhưng cũng có những người bị té ngã trên đường và không còn đủ sức để tiếp tục đi. Đó là những người mà chúng ta cần chăm sóc.
Chúng ta hãy thật tử tế trong cách cư xử với nhau và hãy can đảm để chấp nhận người khác. Đừng ngạc nhiên hay bận tâm về những thất bại của nhau; tốt hơn hãy nhìn và tìm những điều tốt đẹp nơi người khác, vì mỗi người chúng ta đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã nói điều tuyệt đẹp này: “Thầy là cây nho, anh em là cành.” Chúng ta hãy cố gắng thấy và chấp nhận điều này mỗi chị em là một cành trong cây nho Đức Kitô. Nhựa sống thông chuyền từ cây sang các cành nho ở đâu cũng là một laọi.
Nếu thỉnh thoảng như thể Ông Chủ đi vắng, liệu không phải vì chúng ta đã ở quá xa người khác sao ? Chỉ có một điều duy nhất bảo đảm nước trời cho chúng ta : những hành động bác ái và lòng tốt mà chúng ta đã làm trong cuộc sống trần gian. Chúng ta không bao giờ biết được một nụ cười có thể mang những điều tốt lành và hạnh phúc như thế nào. Chúng ta thường nói với mọi người rằng Thiên Chúa, Ngài tốt lành, cảm thông hay tha thứ biết bao, nhưng chúng ta có minh chứng điều đó trong cuộc sống chúng ta? Liệu họ có thực sự nhìn thấy lòng tử tế đó, sự tha thứ đó, và sự hiểu biết thông cảm đó ở trong chúng ta không ?
Các con hãyân cần dịu dàng trong từng hành động của các con. Đừng nghĩ rằng chúng con là người duy nhất biết làm việc hiệu quả, và xứng đáng làm việc (work worth showing). Điều này làm cho các con khe khắt trong việc xét đoán những người không có cùng khả năng giống các con. Thiên Chúa sẽ chỉ hỏi sister đó rằng Ngài đã ban cho chị ấy những gì mà sẽ không hỏi xem Ngài đã ban cho con những gì (God will ask of that sister only what he has given her, and not what he has given you); vậy tại sao lại gây cản trở kế hoạch của Thiên Chúa ? Tất cả mọi sự là của chúa, và Ngài ban phát cho ai như thế nào là tuỳ ý Ngài thích.Các con hãy làm hết sức của mình và hãy nghĩ rằng người khác cũng đang làm hết nỗ lực của họ đối với ý định của Thiên Chúa trên họ. Nỗ lực của họ có thể cuối cùng là một sự thất bại hoàn toàn – Còn nỗ lực của các con là gì ? Các con đã đi theo con đường mà Thiên Chúa dã chọn cho các con. Đối với người khác cũng vậy, hãy để cho Ngài chọn lự cách thức cho họ.
Chúng ta hãy chiêm ngưỡng lòng thương xót của Chúa Kitô đối với Giuđa. Thầy chí thánh đã giữ một sự thinh lặng thánh thiện: Ngài không muốn để lộ kẻ phản bội của Ngài trước mặt các đồng bạn của y. Chúa Giêsu đã nói thẳng và tuyên bố công khai ý định phản bội che giấu của Giuđa. Ngài đã muốn long thương xót hơn sự kết án. Ngài đã gọi Giuđa là bạn. Và nếu như Giuđa đã nhìn vào mắt Chúa Giêsu, chắc chắn anh đã trở thành bạn của lòng thương xót Chúa.
... ở đâu có nghi nan, xin cho con mang đến đức tin ...
Dom Marmion đã viết: “Tất cả những gì mà các bạn phải làm là giao phó chính bản thân vào tay Chúa như chất sáp, để Ngài không sợ ngắt bỏ những phần vô dụng.” Về phần mình, khi Dom Marmion trải qua một cơn cám dỗ muốn bỏ tu viện của mình, thầy đã nằm sấp mặt xuống đất trứơc Nhà Tạm và la to lên: “Thà tôi bị nổ tung thành từng mảnh còn hơn là lìa bỏ Nhà dòng !”
Chúng ta có đủ mạnh, đến mức thà bị cắt thành từng mảnh hơn là phải lìa bỏ Đức Kitô không ? Người ta không thể nào thay đổi lời khấn hứa như thay áo được.
Trong ngày sống của chúng ta mọi sự đều lớn lên cách yếu ớt (weaker). Even the most sacred ties are untied (Cho dù là những ràng buộc thiêng liêng nhất cũng bị tháo cởi). Chúng ta hãy tùng phục Đá Tảng là chính Đức Kitô.
* Hãy trung thành trong những điều nhỏ mọn bởi vì chính trong những điều nhỏ mọn mà sức mạnh của các con lies . Không có gì là nhỏ bé đối với Thiên Chúa nhân lành, vì ngài thật vĩ đại và chúng ta thật nhỏ bé. đó chínhlà lý do tại sao Ngài tự hạ mình trở nên nhỏ bé và chú ý làm những điều nhỏ mọn, để cho chúng ta một cơ hội tở cho ngài thây tình yêu của chúng ta. Vì Ngài đã làm nên những điều nhỏ bé, nên chúng trở thành những điều vĩ đại, và vô cùng. Không có điều gì Ngài làm là nhỏ bé.
* Trung thành với Hiến Luật là bông hoa thanh tú và quí giá nhất mà chúng t acó thể dâng cho Thiên Chúa. Hiến luật diễn tả ý muốn của Thiên Chúa: chúng ta phải qui phục Hiến luật cho đến hơi thở cuối cùng.
Khi Hiến luật trở nên một trong những điều chúng ta ưa thích nhất, thì tình yêu đó trở thành một sự chăm sóc phục vụ vô vị lợi với một nụ cười thật tươi. Đối với người yêu mến, sự phục tùng này quan trọng hơn cả bổn phận và trách nhiệm, đó là bí mật của sự thánh thiện.
Chúng ta thường bị thuyết phục rằng việc vi phạm những lỗi nhỏ nhất cũng làm tổn thương trái tim Chúa Giêsu và làm vấy bẩn lương tâm trong sạch của chúng ta. Chúng ta phải trung thành với những điều nhỏ nhặt, không phải vì những việc đó-đó sẽ là những tâm hồn tầm thường, quá nhỏ nhen-nhưng vì thánh ý của Thiên Chúa, điều mà chúng ta luôn luôn phải kính trọng ngay trong những việc nhỏ mọn. Những luật lệ nhỏ nhất cũng chữa đựng ý muốn của Thiên Chúa, không kém hơn chút nào so với những việc lớn lao trong cuộc sống.
Để hiểu về sự thật này, chúng ta phải xác tín rằng Hiến luật có một nguồn gốc thiêng liêng. Chúng ta phải mau lẹ nắm chắc lấy hiến luật (hold fast to it), như đứa bé mau lẹ ôm chắc lấy mẹ nó.
Chúng ta phải yêu mến sự thật này với cả ý muốn và lý trí của chúng ta. Không có gì quan trọng nếu đôi khi chúng ta cảm thấy Hiến luật cứng nhắc, khắc khổ và giả tạo. Thiên Chúa đã quá tuyệt với với chúng ta, vì thế bổn phận của chúng ta cũng phải như thế đối với Ngài.
* Đức tin là món quà Thiên Chúa ban. Không có đức tin, chúng ta không thể sống nổi. Để công việc của chúng ta sinh hoa trái, để công việc đó thuộc về Thiên Chúa, thì công việc của chúng ta phải được xây dựng trên đức tin. Đức Kitô nói: “Khi Ta đói khát, trần truồng, không nhà cửa ...Con đã làm điều đó cho Ta.”(x Mt 25,35-40). Công việc của chúng ta được xây dựng trên nền tảng đức tin và những lời này của Đức Kitô. Ngày nay đức tin thật khan hiếm, vì sự ích kỷ đã tràn lan khắp nơi; những lợi ích cá nhân được tìm kiếm trên hết tất cả. Đức tin sẽ không thành thực nếu không có long quảng đại bao dung. Bác ái và đức tin đi đôi với nhau, đức tin và bác ái bổ túc cho nhau.
* Q : Trong trường hợp Mẹ phải làm việc trong một đất nước mà Mẹ chỉ được phép làm việc phục vụ người nghèo với điều kiện Mẹ phải chối bỏ niềm tin và tôn giáo của Mẹ, Mẹ có ở lại giúp đỡ người nghèo không ? Hay Mẹ sẽ đi một nơi khác mà ở đó Mẹ có thể hành đạo ?
MT : Không ai có thể lấy đi niềm tin tôn giáo ra khỏi tôi. Họ không thể ngăn cản hay giật lấy niềm tin ấy ra khỏi tôi. Niềm tin là điều gì đó ở bên trong con người tôi. Và nếu không có cách chọn lựa nào khác, nếu đó là cách duy nhat Chúa Kitô đã chọn để đến với dân tộc đó, thì tôi sẽ ở lại để phục vụ họ. Nhưng tôi sẽ không chối bỏ đức tin của mình. Tôi có thể sẵn sàng mất mạng sống chứ không bỏ đức tin của tôi.
Trung thành trong những điều nhỏ mọn nhất, không phải vì lợi ích của bản thân điều đó-vì đây là việc của những con người nhỏ mọn-nhưng vì lợi ích của những việc lơn lao, đó là thánh ý của Thiên Chúa, là điều mà chúng ta phải kính trọng hết sức trong từng công việc nhỏ mọn. Thánh Augustinô nói: “Những việc nhỏ thì thực là nhỏ mọn, nhưng trung thành trong những việc nhỏ thì la là việc lớn lao.” Không phải là một Thiên Chúa hiện diện trong Bánh Thánh nhỏ cũng như trong Bánh Thánh lớn sao ? Điều luật nhỏ nhất trong Hiến luật cũng chứa đựng ý muốn của Thiên Chúa như trong những điều lớn lao trong cuộc sống.
Để có thể yêu thương, chúng ta cần có đức tin, bời vì đức tin chính là tình yêu thể hiện qua hành dộng, và tình yêu thể hiện qua hành động là sự phục vụ. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu dã trở nên Bánh Hằng Sống: để chúng ta có thể ăn, sống và nhìn thấy Ngài trên gương mặt của những người nghèo. Để có thể yêu thương, chúng ta phải nhìn thấy và chạm tới. Và vì thế Chúa Giêsu đã biến người nghèo thành niềm hy vọng ơn cứu chuộc cho bạn và cho tôi. Thực vậy, Ngài đã nói: “Mỗi khi con làm điều đó cho một trong những người anh em nhỏ bé nhất của Ta đay, là các con đã làm cho chính Ta vậy.” (x Mt 25,40).
... ở đâu có thất vọng, xin cho con mang đến niềm hy vọng ...
Những người nghèo là niềm hy vọng. Quả vậy, họ tượng trưng cho niềm hy vọng của thể giưói thông qua lòng can đảm của họ. Họ trao tặng chúng ta một cách thức yêu mến Thiên Chúa khác, bằng cách thúc giục chúng ta làm tấtcả những gì chúng ta có thể để giúp đỡ họ.
... ở đâu có bóng tối, xin cho con mang đến ánh sáng ...
Trong những vùng lân cận nghèo nàn chúng ta là ánh sáng và lòng nhân hậu của Thiên Chúa.
Sự hiểu biết về Đức Kitô và về sự hiện diện của Ngài trong người nghèo sẽ dẫn chúng ta đến tình yêu rất riêng tư. Chỉ có tình yêu này mới có thể trở thành ánh sáng và niềm vui của chúng ta trong sự phục vụ lẫn nhau một cách vui vẻ. Đừng quên rằng chúng ta cần đến nhau. Nếu không có người khác cuộc sống của chúng t ãe trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Làm sao chúng ta có thể yêu mến được Thiên Chúa và người nghèo của Ngài nếu chúng ta không yêu mến những người đang chung sống với chúng ta và cùng bẻ Bánh Thánh Thể với nhau hằng ngày ?
* “Các con hãy yêu thương nhau, như thầy đã yêu mến các con” - những lời này của Chúa Giêsu không chỉ là ánh sáng cho chúng ta, mà còn là ngọn lửa thiêu đốt sự ích kỷ đang ngăn cản chúng ta lớn lên trên đường thánh thiện. Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta cho đến cùng, cho đến sự cùng tận của tình yêu, cho đến trên thập giá. Tình yêu này phải đến từ bên trong-từ sự hiệp nhất bên trong của chúng ta với Đức Kitô. Nó phải là sự chảy tràn của tình yêu chúng ta với Thiên Chúa. Bình thường mà nói yêu thương phải được sống và thở từng ngày cho đến chết. Để hiểu và thực hành điều này chúng ta cần cầu nguyện rất nhiều; lòng tử tế và ân cần sẽ hiệp nhất chúng ta với Thiên Chúa và sẽ and overflows continually upon others . Những việc bác ái của chúng ta không là gì cả mà chỉ là tình yêu trong tâm hồn chúng ta với Thiên Chúa đã chảy tràn ra bên ngoài.Vì vây, ai hiệp nhất với thiên chúa nhiều nhất thì yêu thương anh em mình nhiều nhất.
Chúa Giêsu muốn chúng ta trao ban bản thân từng giây phút. Các con đã được dạy dỗ bởi những người đã hiến trọn cuộc đời cho Đức Kitô. Bằng lời nói và gương sáng, họ đã khơi dậy ánh sáng của Chúa Kitô trong cuộc sống của các con. Đối với các con cũng vậy, đây là thời gian mà các con phải thắp lên ánh sáng ấy trong cuộc sống của những người ở xung quanh chúng con.
Chúng ta hãy lắng nghe điều mà Chúa Giêsu đã nói: “Ta muốn con trở thành lử tình yêu của Ta giữa những người nghèo, những kẻ đang hấp hối, và những ai bé mọn. Ta muốn con hãy mang những người nghèo về cho Ta.” Hãy học thuộc lòng điều này, và hãy lập lại nó mỗi khi các con thấy mình thiếu quảng đại và bao dung. Mỗi khi chúng ta tẩy trừ người khác là chúng ta có nguy cơ liều mình tẩy trừ chính Đức Kitô.
Nếu thái độ của chúng ta là: “Tôi sẽ không thể giúp bạn một tay để làm việc, tôi không thể cho bạn con mắt để giúp bạn xem thấy, đôi chân để giúp bạn đi lại, trí không của tôi để giúp bạn học hỏi, trái tim của tôi để yêu thương. Bạn cứ gõ cửa đi, nhưng tôi sẽ không mở.” thì lúc đó chúng ta đang giới thiệu và đưa cho người khác hình ảnh của một Đức Kitô đã bị thương tích, một Đức Kitô đã bị méo mó và dị dạng.
Nếu bạn muốn người khác yêu mến Chúa Kitô, trước tiên các con phải làm cho họ biết đến Ngài. Vì thế, hãy giới thiệu và trao tặng những người đang sống xung quanh các con, trong thành phố của các con một Đức Kitô trọn vẹn và đầy đủ - một Đức Kitô giàu tình thương mến, đầy tràn niềm vui và ánh sáng. Các con đừng trở nên một thứ ánh sáng lờ mờ, những hãy là một ánh sáng rực rỡ.
Điều mà các con, những người chiêm niệm, phải mang lại chính là sự hiện diện của các con, và bằng sự hiện diện đó các con sẽ mang đến ánh sáng. Chúa Kitô phải là ánh sáng chiếu rọi trong các con, và những ai nhìn chúng con phải nhìn thấy chỉ một mình Ngài mà thôi. Đừng cố gắng trở nên một cái gì khác ngaòi điều đó. Các con có một challenge nhận từ Chúa Giêsu: “Ngài đã toả ra ánh sáng, và các con sẽ nhận lấy ánh sáng của Ngài và rọi sáng trong tâm hồn những người chúng con gặp gỡ. Các con sẽ không làm việc trong những tổ chức lớn và đông người, nhưng các con sẽ làm việc trên các đường phhó, trong các bệnh viện và nơi các nhà tù: bất cứ nơi nào mà tối tăm đang vây phủ con người đó, các con sẽ là người mang đến ánh sáng.
Các con đừng nghĩ tình yêu thực sự phải là điều gì đó phi thường. điều chúng ta cần là yêu thương không mệt mỏi
Một ngọn đèn sẽ cháy như thế nào ? Nó cháy nhờ sự cung cấp không ngừng những giọt dầu nhỏ. Nếu những giọt dầu đó đã cạn, thì ánh sáng của ngọn đèn đó cũng ngưng lại, không sáng nữa, và Chú rể sẽ nói: “Ta không biết các ngươi” (x Mt 25,1-3).
Những giọt dầu trong chiếc đèn của chúng ta là gì ? Chúng là những việc nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta: trung thành trong việc cầu nguyện, giữ đúng giờ, những lời nói tử tế, một ý nghĩ tốt về người khác; hay là cách thức chúng ta giữ giờ ở lặng, cách chúng ta nhìn ngắm, nói năng, và hành động. Đây là những giọt dầu tình yêu thực sự giữ cho cuộc sống tu trì của chúng ta luôn cháy cháy sáng như những ngọn lửa sống động.
Các con đừng tìm kiếm Chúa Giêsu ở nơi nào khác ngoài chúng con. Ngài không có ở đó. Ngài ở trong các con. Hãy giữ cho ngọn đèn của các con cháy sáng, và các con sẽ nhận ra sự hiện diện của Ngài.
Niềm vui là tình yêu thương, là kết quả tự nhiên của một trái tim bừng cháy với tình yêu. Ngọn đèn của chúng ta sẽ cháy với những hy sinh được làm vì yêu mến nếu chúng ta có niềm vui. Và sau đó Chú Rể sẽ nói: “Hãy đến và thừa hưởng nước trời đã được chuẩn bị sẵn cho các con.” Người nữ tu vui vẻ là người trao ban nhiều nhất. Mọi người, ai cũng yêu thích những người cho với niềm vui, và Chúa cũng yêu thích như vậy. Chúng ta cũng vậy, chẳng phải chúng ta cũng luôn hướng về những người cho đi cách vui vẻ không cằn nhằn là gì ? “Niềm vui là một cái lưới tình thương mà chúng ta dùng để bắt các linh hồn.” Bởi vì chúng ta lúc nào cũng vui vẻ nên mọi người ai cũng muốn ở với chúng ta và đón nhận nơi chúng ta nguồn ánh sáng mà chúng ta đang sở hữu từ nơi Chúa Kitô. Hằng ngày, chúng ta c ầu nguyện: “Lạy Chúa, xin Chúa ban cho con biết toả lan hương thơm của Chúa,” Lạy Chúa, hương thơm của Chúa, chứ không phải của con.
Các sister của tôi cũng làm việc tại Úc Châu. Trên vùng đất dành hco những bộ lạc người da đỏ (on the reservation trang 71, đoạn đầu), giữa những người thổ dân, có một người đàn ông lớn tuổi. Tôi có thể chắc chắn với các bạn rằng các bạn chưa bao giờ thấy mộy hoàn cảnh nào khó khăn và đáng thương như hoàn cảnh của ông ta. Ông ta hoàn toàn không được ai biết đến. Nhà của ông thì thật bừa bãi và bẩn thỉu.
Tôi nói với ông ta: “Ông ơi, ông để tôi lau chùi nhà cửa, giặt quần áo và dọn giường cho ông nhé?” Ông trả lời; “Tôi sống như vậy quen rồi. Cứ để yên đấy.”
Tôi lại nói: “Ông sẽ cảm thấy thoải mái hơn nếu ông để tôi giúp ông một tay.”
Cuối cùng ông đã đồng ý. Và tôi đã lau chùi sạch sẽ căn nhà, giặt quần áo giúp ông. Bất chợt tôi tìm thấy một cây đèn rất đẹp, phủ đầy nụi bặm. Chỉ có Chúa mới biết được ông ta đã để nó ở đấy bao lâu rồi.
Tôi nói với ông: “Ông không thắp đèn sao ? Ông chưa từng dùng cây đèn này à ?”
Ông ta trả lời: “Không. Chẳng có ai đến thăm tôi. Tôi không cần đốt đèn. Tôi đốt đèn cho ai ?”
Tôi hỏi: “Nếu các sisters của tôi đến, ông có thắp đèn mỗi tối không ?”
Ông trả lời: “Dĩ nhiên rồi.”
Từ ngày đó trở đi, các sisters đã cam kết với nhau sẽ đến thăm ông ta mỗi buổi tối. Chúng tôi đã chùi sạch cây đèn, và các sisters đã đốt đèn mỗi buổi tối.
Hai năm trôi qua. Tôi đã hoàn toàn quên hẳn người đàn ông đó. Ông ấy đã gửi cho tôi một lời nhắn như sau: “Xin vui lòng nói với người bạn của tôi rằng ánh sáng mà bà ấy đã thắp lên trong cuộc đời tôi vẫn còn tiếp tục toả sáng.”
Và tôi nghĩ đó chỉ là một việc rất nhỏ. Nhưng chúng ta thường thờ ơ và chẳng quan tâm đến những chuyện nhỏ bé.
... ở đâu có u sầu, xin cho con mang đến an vui ...
Ước gì niềm vui của chúa Giêsu Kitô phục sinh luôn ở cùng các con, để mang lại niềm vui cho tâm hồn chúng con. Thiên Chúa nhân lành đã trao ban cho chúng ta chính bản thân mình. Để đáp trả ơn sủng lớn lao của Bí tích Rửa Tội, vị linh mục nói với người vừa lãnh Bí tích này: “Ước chi bạn phục vụ Hội thánh của Thiên Chúa trong niềm vui.”
Phục Sinh là một trong những ngày lễ lớn của chúng ta, ngày lễ của niềm vui mừng-niềm vui của Đức Chúa. Đừng để bất cứ thứ gì làm chúng ta xáo trộn, đừng để bất cứ việc gì làm chúng ta lo âu và nhụt khí, cũng như làm cho chúng ta bị tước mất niềm vui sự phục sinh.
Ước chi niềm vui của Chúa phục Sinh trở thành sức mạnh cho các con làm việc, thành con đường giúp các con đi về nhà Cha, thành ánh sáng soi dẫn các con và thành Bánh Trừng Sinh nuôi sống các con.
Ước chi niềm vui và tình yêu của Chúa Giêsu Phục Sinh luôn ở cùng các con, trong các con, và giữa các con, để tất cả chúng ta trở nên nhân chứng đích thật của tình yêu Thiên Chúa Cha đã dành cho nhân loại: “Vì Thiên Chúa đã yêu thưuơng thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho nhân loại.” (x Ga 3,16). Chúng ta cũng hãy yêu mến Thiên Chúa nhiều đến nỗi trao hiến bản thân chúng ta cho Ngài trong những người ở cạnh bên chúng ta và trong những người nghèo của Ngài.
Niềm vui không đơn giản là vấn đề của tính khí khi phục vụ Chúa và các linh hồn; Điều này không phải dễ – all the more reason why we should try to aquire it and make it grow in our souls.
Đối với trẻ em và với người nghèo, và tất cả những người đau khổ và cô đơn, các con hãy luôn trao cho họ nụ cười vui vẻ; hãy cho họ không chỉ sự chăm sóc nhưng còn cả tấm lòng của các con. Có thể chúng ta chẳng cho được gì nhiều nhưng lúc nào chúng ta cũng có thể trao ban niềm vui phát xuất từ tâm hồn luôn yêu mến Thiên Chúa. Niềm vui rất dễ lây lan. Vì thế, các con hãy luôn vui vẻ khi đi lại và làm việc giữa những người nghèo.
Có một người hỏi Me: “Mẹ đã lập gia đình chưa ?” Mẹ trả lời: “Rồi, và đôi khi tôi cảm thấy rất khó mỉm cười với Chúa Giêsu bởi vì Ngài lúc nào cũng đòi hỏi.” Quả thật đây là điều rất thực. And there is where loves comes – when it is demanding, and yet we can give it to Him with joy.
Sự phấn khởi và vui vẻ là sức mạnh của Đức Mẹ. Chính điều này làm Mẹ trở nên người nữ tì tự nguyện của Thiên Chúa, cũng là con của Mẹ, vì ngay khi Thiên Chúa ngự xuống cung lòng Mẹ, thì Mẹ đã “vội vã ra đi”. Chỉ có niềm vui mới cho đức Mẹ sức mạnh để vội vã băng qua vùng đồi núi Giuđa để làm công việc của một người tôi tá đối với người chị họ. Đối với chúng ta cũng vậy, giống như Mẹ, chúng ta phải trở nên như những tì nữ đích thực của Thiên Chúa, và sau sự Hiệp lễ hằng ngày, chúng t acũng hãy ra đi cách vội vã, băng qua những đồi núi của những khó khăn, vất vả chúng ta gặp khi hết mình phục vụ cho người nghèo. Các con hãy mang Chúa Giêsu đến cho họ, như Người Tôi tá của Thiên Chúa đã làm.
Chúa yêu thích những người cho cách vui vẻ. Ai cho đi cách vui vẻ là người cho nhiều nhất. Nếu trong công việc, các con gặp những khó khăn và đón nhận chúng với niềm vui - với nụ cười thật tươi- thì mọi người sẽ nhìn thấy những công việc tốt đẹp của các con và tôn vinh Chúa Cha trên trời. Cách tốt nhất để bày tỏ lòng biết ơn của chúng con đối với Chúa và với mọi người là đón nhận mọi sự với niềm vui. Một trái tim tràn đầy niềm vui là kết quả tự nhiên của một tâm hồn bừng cháy với tình yêu.
* Điều đòi hỏi một Thừa Sai Bác Ái là điều này: khoẻ mạnh về tâm trí và thể lý,có khả năng hock hỏi và có trí phán đoán tốt, có tính tình cởi mở và vui vẻ. Nếu một sister nào mang tâm trạng ít nhất là không thanh thản, thì Mẹ không cho phép chị ấy đi thăm những người nghèo. Người nghèo đã có quá nhiều điều buồn khổ; làm sao chúng ta có thể đến với họ với tâm trạng ưu phiền của riêng chúng ta ?
Niềm vui là sức mạnh. Người nghèo cảm thấy bị hấp dẫn đến với Chúa Giêsu bởi vì từ nơi phát ra một năng lực mạnh mẽ và sung mãn – qua ánh mắt, qua đôi tay và chính thân mình Ngài – completely released and present to God and to men.
Các con hãy phấn đấu để trở nên sự minh chững của Thiên Chúa ngay giữa cộng đoàn của chúng con. Chúng ta phải chiếu toả niềm vui được trở nên nghèo khó, không cần nói bằng lời. Chúng ta phải hạnh phúc trong sự khó nghèo của chúng ta.
Các tập sinh thương mến, Mẹ muốn nghe thấy tiếng nhạc vui trong những nụ cười vui sướng của chúng con.
Người ta dường như không sẵn lòng khi nhìn thấy chúng con, nhưng tất cả đang đói khát điều mà Thiên Chúa muốn ban cho họ qua chúng ta. Khắp nơi trên thế giới, con người đang đói và khát tình yêu của Thiên Chúa. Và các con sẽ làm thoả mãn cơn đói khát đó bằng cách lan toả niềm vui.
Để toả lan niềm vui, thì niềm vui ấy cần được ngự trị trước tiên trong gia đình. Hoà bình và chiến tranh bắt đầu từ bên trong một gia đình nhỏ. Nếu chúng ta thực sự muốn có hoà bình cho thế giới, chúng ta hãy bắt đầu bằng tình thương mến nhau giữa các thành viên trong gia đình của chúng ta. Và rối chúng ta sẽ có niềm vui của Chúa Kitô, đó là sức mạnh của chúng ta. Đôi khi chúng ta cũng cảm thấy thật khó mà mỉm cười với nhau. những người chồng cũng cảm thấy khó mỉm cười với vợ mình, và các người vợ cũng vậy.
Nếu các sisters không phấn khởi và vui vẻ, thì đời sống tu sĩ của chúng ta sẽ giống cái gì ? Nó chỉ là một công việc cực nhọc. Chúng ta sẽ làm việc mà chẳng lôi cuốn được ai. Sự buồn bã, chán nản, và chậm chạp sẽ mở cửa cho sự uể oải là mẹ đẻ của tất cả mọi thứ xấu xa.
Nếu các con vui vẻ, thì đừng lo lắng gì về việc thiếu sốt sắng hay thiếu nhiệt thành. Niềm vui sẽ chiếu sáng trong đôi mắt và trong ánh nhìn của chúng con, cũng như trong sự nói chuyện và trên sắc mặt của chúng con. Các con sẽ chẳng giấu nổi điều đó bởi vì niềm vui thì luôn chảy tràn lan. Khi mọi người nhìn thấy niềm hạnh phúc trong mắt các con, họ sẽ trở nên ý thức hơn về địa vị làm con Thiên Chúa của họ.
Những tâm hồn thánh thiện đôi khi cũng chịu những thử thách nội tâm lớn lao, và họ đã có kinh nghiệm nhiều về bóng tối. Nhưng nếu chúng con muốn người khác trửo nên ý thức hơn về sự hện diện của Chúa Giêsu, các con phải là những người đầu tiên xác tín về điều đó.
Các con hãy tưởng tượng một sister đi đến những khu ổ chuột với nét mặt buồn rầu và những bước bi chậm chạp. Sự hiện hiện của chị ấy sẽ chuyển tải được điều cho những người nghèo ? Sẽ không được gì cả mà chỉ làm cho họ thêm chán nản và thất vọng.
Niềm vui rất dễ lây lan. Vì thế, các con hãy cố gắng lúc nào cũng tràn đầy hạnh phúc bất cứ lúc nào các con ở giữa những người nghèo.
Theo Thánh Bônaventura, niềm vui đã được trao ban cho con người để con người được vui mừng hoan hỷ trong Thiên Chúa vì niềm hy vọng điều thiện hảo vĩnh cửu và vì nhìn thấy những ân huệ họ đã nhận được từ nơi Ngài. Vì vậy, con người sẽ biết cách vui mừng với sự thành công và phát đạt của người anh em mình như thế nào, vui thích làm vinh danh Chúa ra sao, cũng như cảm thấy bất mãn với những gì hư vô và trống rỗng.
* Niềm vui phải là một trong những cột trụ vững chắc trong đời sống của chúng ta. Nó là biểu hiện của những nhân cách quảng đại. Đôi khi niềm vui cũng là cái ái khoác che đậy một cuộc đời hy sinh và tận hiến.
Người có nhân đức này thường đạt tới đỉnh cao cuộc sống. Họ như ánh mặt trời toả rạng trong cộng đoàn. Các con hãy để những người nghèo và đau khổ tìm thấy nơi các con những thiên thần ủi an và khích lệ.
Tại sao các công việc ở những khu ổ chuột được Thiên Chúa chúc lành ? Tất nhiên không phải vì những tài năng cá nhân của riêng ai, những chính vì niềm vui mà các sisters đã toả ra khi họ pass by. (trang 74, đoạn kế cuối)
Con người trên thé giới ngày nay đang thiếu thốn niềm vui của chúng ta. Những người sống trong các khu ổ chuột còn ít niềm vui hơn nữa. Niềm vui của chúng ta là phương cách hữu hiệu nhất để rao truyền đạo của chúng ta cho những người ngoại giáo.
Chúng ta nên tự hỏi mình: “Tôi có thực sự đã cảm nếm niềm vui khi yêu thương kẻ khác không ?”Tình yêu đích thực là tình yêu làm chúng ta bị thương tổn, cảm thấy đau xót, nhưng mang lại cho chúng ta niềm vui. Đó là lý do tại sao chúng ta phải cầu nguyện với Chúa luôn luôn, xin Người ban cho chúng ta lòng can đảm để có thể yêu thương.
Như những người cộng tác của Chúa Giêsu, một điều mà chúng ta phải học là phải biết gieo rắc niềm vui. Chúng ta không cần bom hay bát cứ loại vũ khí nào để mang lại hoà bình cho thế giới. Chúng ta cần tình yêu và lòng trắc ẩn mà chúng ta hằng cầu xin mỗi ngày. Chúng ta cần một tình yêu thương thực sự - một lòng trắc ẩn và tình thưong mến mang lại niềm vui và hoà bình. Thế giới ngày nay đang đói khát Thiên Chúa.
Để mang niềm vui đến cho chúng ta, Chúa Giêsu đã xuống thế và trở nên người phàm. Đức Mẹ là người đầu tiên đón nhận Chúa Giêsu: “Thần trí tôi vui mừng hoan hỷ trong Thiên Chúa là Cứu Chúa của tôi” (x Lc 1,47). Con trẻ trong dạ của Êlizabeth cũng đã nhảy lên vui sướng vì Đức Mẹ đã mang Chúa Giêsu đến cho em.
Tại Bethlem, niềm vui đã tràn ngập mọi người: những mục đồng, các thiên thần, ba vua, Thánh Giuse và Đức Mẹ. Niềm vui cũng là một dấu tiêu biểu của những người công giáo thời sơ khai. Trong suốt thời kỳ bị bách hại, người ta đã từng tìm kiếm những người mà gương mặt họ ánh lên niềm vui sướng. Bởi niềm vui đó, họ biết được ai là những người theo đạo Công giáo, thế rồi họ bắt và ngược đãi những người này.
Thánh Phaolô, người mà chúng ta đang cố gắng bắt chước với lòng nhiệt thành, là một tông đồ của niềm vui. Ngài đã thúc giục những người theo đạo thời sơ khai hãy vui luôn trong niền vui của Đức Chúa. Cả cuộc đời của Thánh Phaolô có thể được tóm tắt trong câu này: “Tôi thuộc về Đức Kitô” Không có điều gì có thể tách tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô, không một đau khổ, không sự bách hại nào, không một sự gì (x Rm 8,35-39). “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi sống nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (x Gl 2,20). Đó là lý do tại sao Thánh nhân lúc nào cũng đầy ắp niềm vui.
Niềm vui là điều cần thiết và là sức mạnh của chúng ta, ngay cả về thể lý.
Một nữ tu biết trau dồi một tinh thần vui vẻ thì cảm thấy ít mệt mỏi hơn và luôn luôn sẵn sàng làm điều tốt.
Thiên Chúa là niềm vui. Ngài là tình yêu. Một nữ tu tràn đầy niềm vui thì rao giảng mà không cần lời giảng.
Một nữ tu vui vẻ thì giống như tia sáng của tình yêu Thiên Chúa, là niềm hy vọng hạnh phúc muôn đời, và là ngọn lửa tình yêu bừng cháy.
Trong hội dòng của chúng tôi, tính tình vui vẻ là một trong những ưu điểm được đòi hỏi cho một Thừa Sai Bác Ái. Tinh thần của hội dòng chúng tôi là hoàn toàn phó thác, tin tưởng yêu thương và tràn đầy niềm vui. Đó là lý do tại sao hội dòng đòi chúng ta chấp nhấnự nhục mạ hiểu lầm một cách sẵn sàng và vui vẻ, để sống cuộc sống khó nghèo với niềm tin tưởng vui vẻ, để bắt chước đức trinh khiết của Mẹ Maria, nguyên nhân của niềm vui chúng ta, để dâng hiến sự vâng lời của chúng ta với sự vui vẻ từ niềm vui nội tâm, để chăm sóc Đức Kitô dưới dạng thức đau khổ của người nghèo trong sự tận tuỵ vui vẻ.
Ôi lạy Thầy dạy con, xin hãy ban cho con
biết tìm an ui người khác hơn được người khác ủi an,
biết tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
biét tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Công việc phục vụ của chúng ta càng khó chịu, nặng nề bao nhiêu, thì đức tin và lòng mộ mến của chúng ta càng lớn bấy nhiêu. Điều mà chúng ta cảm thấy khó chịu, hay ghê tởm là điều tự nhiên, nhưng khi chúng ta vượt qua điều đó vì yêu mến Chúa Giêsu thì chúng ta sẽ trở nên những anh hùng. Vượt qua những sự nặng nề và ghê tởm là điều đã nhấc các vị lên sự thánh thiện-những điều này rất thường khi xảy ra trong đời sống của các thánh. Đây là trường hợp của Thánh Phanxico Assisi-khi ngài gặp một người phong hủi khuôn mặt hầu như đã biến dạng, ngài đã giật mình, lùi lại. Nhưng sau đó, vượt qua sự sợ hãi, ngài đã lại gần hôn lên gương mặt lồi lõm, kinh dị ấy. Và kết quả là Phanxicô đã có được niềm vui không lời nào kể xiết. Ngài đã trở nên hoàn toàn tự chủ được mình, và người phong hủi đã tiếp tục đi và tôn vinh Thiên Chúa vì đã chữa lành bệnh cho mình.
Sự thâm trầm là điểm khởi đầu cho sự thánh thiện. Nếu các con học được nghệ thuật suy tư này, các con sẽ trở nên ngày càng giống Chúa Kitô hơn, vì tâm hồn Ngài lúc nào cũng dịu dàng khiêm hạ và luôn nghĩ về người khác. Chúa Giêsu “went about doing good” (x Cv 10,38). Đức Mẹ của chúng ta, tại tiệc cưới Cana, đã chẳng làm gì khác ngoài việc nghĩ đến những nhu cầu của người khác và thông báo cho Chúa Giêsu biết những nhu cầu của họ. Sự thâm trầm của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse vĩ đại đến nỗi nó đã làm cho làng Nazareth bé nhỏ trở thành nơi lưu lại của Thiên Chúa Tối Cao. Nếu mỗi người trong chúng ta cũng có được sự thâm trầm, suy tư đó thì cộng đoàn của chúng ta cũng sẽ trở thành một nơi ở lại của Đấng Tối Cao.
Tu viện của chúng ta sẽ dễ thương biết bao nếu ở đó mỗi người đều cảm thấy có những nhu cầu cần sự thâm trầm và suy tư tuyệt đối. Phương pháp nhanh nhất và chắc chắn nhất là cái lưỡi : hãy sử dụng nó cho những điều tốt đẹp của người khác. Nếu các con luôn nghĩ tốt về người khác, các con cũng sẽ nói tốt về người khác và với người khác. Vì lòng đầy thì miệng mới nói ra. Nếu tâm hồn các con đầy tình yêu mến, các con sẽ nói về tình yêu.
Thật đẹp biết bao khi tình yêu thương lẫn nhau trở thành một thực tại sống động. Hỡi các sisters nhỏ tuổi, các con hãy kính trọng và yêu thiương những sisters lớn tuổi hơn. Còn các soeurs lớn, các con cũng hãy đối xử với các em với sự tôn trọng và yêu mến, bởi vì các em, cũng giống như các con, các em cũng đã thuộc về Chúa Kitô. Ngài đã chọn mỗi người các con cho Ngài, để trở nên tình thương mến và ánh sáng của Ngài giữa thế giới hôm nay. Cách đơn giản nhất để trở nên ánh sáng của Ngài là các con sống tử tế, yêu thương, cẩn thận và thân ái với nhau: “Bởi điều này mà người ta sẽ biết các con là môn đệ của Thầy” (x Ga 13,35).
Tất cả chúng ta, mỗi người một cách, chúng ta hãy cố gắng trở nên niềm vui cho Đức Mẹ của chúng ta. Rất thường khi trong ngày sống, chúng ta gọi Mẹ Là “nguyên nhân niềm vui của chúng ta” bởi vì niềm vui của Con Mẹ là sức mạnh cho chúng ta. Chúng ta hãy hứa với nhau rằng chúng ta sẽ làm cho cộng đoàn của chúng ta trở thành một Bethlem mới, một gia đình Nazareth mới. Chúng at hỹa thưuơng mến nhau như chúng ta đã yêu mến Chúa Giêsu. Ở làng quê Nazareth có tình thương mến, có sự hiệp nhất, cầu nguyện, có những hy sinh, những công việc nặng nhọc; và đặc biệt có cả sự hiểu biết sâu xa và đánh giá cao lẫn nhau cũng như sự suy tư thâm trầm cho riêng mỗi người.
Có khi chỉ một nụ cười, một cuộc viếng thăm ngắn ngủi, đốt một cây đèn, viết một lá thư cho người bị mù, xách giùm một thùng than, tặng một đôi giày, đọc một tờ báo cho ai đó ... - những việc rất nhỏ, rất nhỏ mọn – nhưng, trong thực tế, lại là tình yêu của chúng ta với Thiên Chúa, được biểu tỏ qua hành động.
Có rất nhiều bác sĩ và nhiều phương thuốc để chữa trị cho tất cả mọi bênh tật của con người. Nhưng nếu không có những đôi bàn tay trao hiến trong phục vụ và những tấm lòng yêu thương quảng đại, Mẹ nghĩ rằng sẽ chẳng có một phương thuốc nào có thể chữa được căn bệnh khủng khiếp là cảm thấy bị bỏ rơi, và không được yêu thương.
( Ngày 17/2/2009)
Nhóm tình nguyện lắng nghe đầu tiên đã bắt đầu khai mầm giữa những cộng sự viên của chúng tôi. Những người này làm thành từng nhóm nhỏ đi thăm viếng những người già cả-thỉnh thoảng đến những gia đình thường dân, nghèo túng, và ngồi xuống, chỉ là để lắng nghe họ nói và nói. Những người già cả thường rất thích có người ngồi nghe họ kể chuyện quá khứ, thậm chí những câu chuyện của họ có khi đã xảy ra cách đó hai mươi, có khi ba mươi năm. Lắng nghe, khi mà không một ai vui lòng tình nguyện làm điều đó, chắc chắn là một một việc làm cao thượng.
Lời khấn của tôi cũng ràng buộc tôi với chị em trong cộng đoàn, bởi vì các chị em của tôi nghèo hơn những người nghèo ở bên ngoài rất nhiều. Nếu tôi không ân cần mỉm cười với những người nghèo ở ngoài, sẽ có những người khác làm việc đó. Nhưng nếu tôi không mỉm cười với các chị em của tôi, thì chẳng có ai làm điều đó.
Hãy ăn ở tử tế và ân cần, rất ân cần với những người đau khổ. Chúng ta rất hiếm khi nhận thức những điều họ đang trải qua. Điều khó khăn nhất là cảm thấy không dược cần đến mình. Đây là thử thách lớn nhất trong những kinh nghiệm của người bệnh phong, thậm chí cho đến ngày nay. Hãy bày tỏ tình yêu thương của bạn đối với họ bằng cách trở nên thật ân cần và lịch sự- hành xử cách lịch thiệp, nói năng ân cần. Tôi thực sự thích các chị em của tôi phạm những sai lầm với sự nhỏ nhẹ, lịch sự hơn là làm những phép lạ với sự khắc nghiệt và bất nhẫn.
Sự tử tế biến đổi lòng người hơn sự nhiệt thành, kiến thức hay sự hùng biện. Chúng tôi đã làm lời tuyên khấn phục vụ hết lòng cho những người nghèo. Điều này không có nghĩa là yêu thương người nghèo sao ? THe poor are not at our service. Nếu chúng ta muốn người nghèo nhìn thấy Đức Kitô nơi chúng ta, trước hết chúng ta phải nhìn thấy Đức Kitô nơi người nghèo.
Holiness graws so fast where there is kindness. I have never heard of kind souls astray. The world is lost for want of sweetness and kindness. In religious houses this kindness is in greater danger, for we have grown so much use to each other that some think they are free to say any thing to anybody at nay time. They expect the others sisters to bear with their unkindness. Why not try first to put a brake on your own tongue ? You know what you can do, but you do not know how much the other can bear. vWhy not give the chance of holiness to yourself first ? Your holiness will be of greater help to your sisters tha the chance you give her to put up with your unkindness. ( đoạn kế cuối trang 78 )
Điều duy nhất Đức Giêsu muốn hỏi xin chúng ta đó là hãy hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và để làm được điều đó, Ngài dạy chúng ta phải cầu nguyện. Ngài đã đặt sự “hiền lành” lên trước. Từ đó một lời nói sẽ trở thành sự tử tế, có suy nghĩ, đơn sơ, quảng đại và đầy chân thật. Cho ai ? Cho người khác. Chúa Giêsu đã đặt “lòng khiêm nhường” sau sự hiền lành. Chúng ta không thể yêu người khác trừ khi chúng ta nghe được tiếng nói của Thiên Chúa trong lòng chúng ta.
Một năm kia, tôi đã muốn làm một điều gì đó thật đặc biệt cho các sisters của tôi. TTooi đã gửi một lá thư đến từng mỗi chị em, và từng cộng đoàn, yêu cầu mỗi người viết ra những gì mà họ nghĩ là tốt đẹp nơi các chị em của mình và trong cộng đoàn của mình. Tôi xin mỗi một chị em gửi câu trả lời cho tôi. Và thật đáng ngạc nhiên ! Hàng ngàn thư hồi âm đã được gửi về cho tôi. Tôi đã phải ngồi xuống và kiên nhẫn đọc từng lá một, làm thành danh sách mỗi cộng đoàn và tất cả các sisters. Sau đó, tôi đã gửi các thư hồi âm cho các cộng đoàn.
Tất cả các chị em đã rất nhạc nhiên vì đã có người chú ý tới những điều tốt đẹp như vậy nơi mình- rằng đã có một ai đó đã có thể nhìn thấy những việc tốt lành đó. Tất cả những điều này đã nuôi dưỡng một tinh thần thương yêu, hiểu biết và chia sẻ.
Tôi nhận thấy rằng, chúng ta thường quá để ý tới những khía cạnh tiêu cực của cuộc sống, trên những điều xấu. Nếu chúng ta cởi mở hơn để nhìn thấy những điểm tốt đẹp xung quanh chúng ta, chúng ta đã có thể thay đổi gia đình chúng ta theo hướng tốt đẹp hơn hơn. Và từ đó, chúng ta sẽ làm thay đổi những người hàng xóm sát cạnh chúng ta cũng như những người sống trong làng xóm hay trong thành phố. Chúng ta sẽ có thể mang bình an và yêu thương cho thế giới của chúng ta- một thế giới đang đói khát tình yêu và hòa bình.
Chúng ta hãy học biết lòng âu yếm dịu dàng của tình yêu Thiên Chúa. Vì Ngài đã nói trong Thánh Kinh : “Cho dù người mẹ có quên đứa con mình sinh ra đi nữa, Ta sẽ không quên ngươi đâu. Vì Ta đã khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta.”(x.Is 49,15-16). Khi bạn cảm thấy cô đơn, khi bạn cảm thấy không được ai cần đến, khi bạn cảm thấy yếu đau và bị bỏ quên, hãy nhớ rằng bạn rất quí giá đối với Chúa. Ngài đang yêu thương bạn. Và hãy biểu lộ tình yêu ấy cho người khác, vì đó là tất cả những gì mà Chúa Giêsu đã đến trần gian để dạy cho chúng ta.
Vào giờ chết của mình, Chúa của chúng ta đã nghĩ tới mẹ của Ngài. Đó là bằng chứng Ngài đã làm người cho tới cùng. Vì vậy, nếu bạn có tấm lòng yêu thương, hãy giữ lấy và dùng tình yêu ấy cho Thiên Chúa; nếu bạn có lòng thân thiện và ân cần biết làm cho người khác mỉm cười, hãy giữ lấy và hãy dùng điều đó cho Thiên Chúa.
Xin Thiên Chúa ban lại cho bạn trong thương mến tất cả mối tình yêu mà bạn đã trao ban và tất cả những niềm vui và bình an mà bạn đã gieo rắc cho những người xung quanh bạn, khắp nơi trên thế giới. Xin Thiên Chúa chúc lành cho bạn trong mọi sự.
Những người đã giúp đỡ công việc của chúng tôi trong suốt thời kỳ khó khăn mà những người tị nạn Bengali trải qua, đã phàn nàn rằng họ đã nhận được từ những người họ giúp đỡ nhiều hơn là những gì mà họ đã cho đi. Điều này hoàn toàn chính xác với những gì mà mỗi chị em chúng tôi đã trải qua khi tiếp cận và phục vụ cho những người đau khổ và bất hạnh.
Tôi xác tín rằng giới trẻ ngày nay quảng đại hơn so với giới trẻ lúc trước. NGười trẻ của chúng ta hôm nay được chuẩn bị chu đáo hơn và sẵn lòng hy sinh hơn trong việc phục vụ con người. Vì lý do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi có nhiều người trẻ trong hội dòng chúng tôi. Đa phần trong số họ thuộc tầng lớp trung lưu. Họ có mọi thứ: của cải, tiện nghi, địa vị xã hội cao. Thế nhưng họ đã xin gia nhập vào một hội dòng chuyên lo phục vụ và chăm nom cho những người nghèo khổ, để được sống một cuộc đời nghào khó và chiêm niệm thực sự.
Thỉnh thoảng, những người giàu có dường như cũng sẵn lòng chia sẻ những điều bất hạnh của kẻ khác. Song, đó chỉ là sự thương hại, vì họ không bao giờ cho đi cho đến mức họ cảm thấy mình cũng đang thực sự cần đến điều đó.
Thế hệ mà chúng ta đang sống thì hiểu biết hơn, đặc biệt là trẻ em. Có những trẻ em người Anh đã làm những hy sinh để tặng những chiếc bánh kẹp xốp cho trẻ em mồ côi của chúng tôi. Có những trẻ em Thụy Điển cũng thực hành những hy sinh để tặng cho người khác những ly sữa mỗi ngày. Những trẻ em người Đức cũng làm tương tự như vậy để tặng cho người nghèo những thức ăn bổ dưỡng.
Đây là những phương cách rất cụ thể để dạy người ta yêu thương. Khi những đứa trẻ này lớn lên, chúng sẽ biết cho đi nghĩa là gì.
Tôi mong muốn những cộng tác viên đặt cả bàn tay và tấm lòng của họ vào công việc phục vụ những người khác. Nếu họ không tiếp xúc và gặp gỡ người nghèo, họ sẽ không có khả năng biết mình là ai.
Ở đây, tại Calcutta, chúng tôi có một nhóm không công giáo và công giáo cùng làm việc chung với nhau trong nhà hấp hối và những nơi khác. Cũng có một số khác tự nguyện phục vụ và chăm lo cho người bệnh cùi.
Một ngày kia, một người đàn ông người Úc đã đến và tặng cho chúng tôi một món tiền lớn. Nhưng khi đưa quà cho chúng tôi, ông nói: “Thưa Mẹ, đây chỉ là cái bên ngoài. Giờ đây, con muốn cho tặng chính con”. Và bây giờ, ông ta thường xuyên đến nhà hấp hối để cạo râu cho những người đau yếu và nói chuyện với họ.
Người đàn ông này đã trao tặng không chỉ tiền bạc mà cả thời giờ của mình. Ông ấy đã có thể dành thời giờ cho mình, nhưng cái mà ông muốn đó chính là cho đi chính bản thân ông.
Tôi thường hỏi xin những món quà không dính dàng gì đến tiền bạc. Có những điều mà người ta có thể có được. Điều tôi mơ ước là sự hiện diện của người cho, là sự đụng chạm của họ đến những người mà họ trao tặng, để mỉm cười với họ, và quan tâm tới họ. Tất cả những điều này thật ý nghĩa cho những người đó.
Tôi thúc giục mọi người hãy gia nhập vào công việc của chúng tôi vì lợi ích của chúng tôi và vì lợi ích của mọi người. Tôi không bao giờ hỏi xin họ về tiền bạc hay bất cứ một thứ vật chất nào. Tôi chỉ xin họ hãy mang đến tình yêu, hãy làm những hy sinh từ đôi bàn tay của họ. Khi những người này đến với những người đau khổ, phản ứng đầu tiên của họ là làm một cái gì đó. Khi họ đến lần thứ hai, họ đã cảm thấy bị liên lụy với những người này. Và sau một thời gian, họ nhận thấy mình thuộc về người nghèo và họ cảm thấy trong mình tràn đầy những nhu cầu yêu thương người khác. Họ khám phá ra họ là ai và điều mà chính họ có thể trao ban là gì.
Trong tất cả các nhà và nhà tập của chúng tôi, Thiên Chúa đã ban lòng quảng đại cho mọi sisters. Hãy giữ gìn sự quảng đại ấy – bạn sẽ có tất cả lý do để cảm thấy hạnh phúc. Hãy cứ mỉm cười với Chúa Giêsu, qua nụ cười của bạn với bề trên, với các chị em và với người nghèo.
Mẹ nghĩ rằng một người luôn gắn bó với của cải , luôn sống với những lo lắng về của cải vật chất, thì người đó thực sự rất nghèo. Nếu người này dùng tiền của để lo lắng cho người nghèo, thì họ sẽ trở nên giàu có, thực sự giàu có.
Nếu người nghèo của chúng ta chết vì đói, thì không phải bởi Thiên Chúa đã không chăm sóc họ. Đúng hơn, đó chính là vì hoặc các bạn hoặc tôi, chúng ta đã không đủ quảng đại. Chính là vì chúng ta không phải là những khí cụ tình yêu trong tay Chúa để ban phát cho họ quần áo và thực phẩm. Chúng ta đã không nhận ra Đức Kitô khio một lần nữa Ngài lại xuất hiện trước chúng ta dưới hình thức của những người cùng khổ- trong những kẻ đói khát, trong những người cô đơn, trong một đứa trẻ đang tìm sự vỗ về, yêu thương và ấm áp.
Mẹ sẽ kể cho các con nghe một câu chuyện. Một đêm kia, một người đàn ông đã đến nhà của chúng ta và nói với Mẹ: “Có một gia đình với tám đứa con. Đã mấy ngày nay họ không có gì để ăn.” Mẹ đã lấy một ít thức ăn đem theo và đi đến đó.
Khi Mẹ đến gia đình đó, Mẹ nhìn thấy khuôn mặt của những đứa trẻ đã biến dạng vì đói. Không một chút lo lắng hay buồn phiền trên khuôn mặt, ngoại trừ sự đói khát cùng cực.
Mẹ đã đưa cho người mẹ mấy đứa nhỏ ít gạo. Bà ấy đã phân số gạo ra làm hai, và đi ra ngoài, mang theo một phần gạo đã chia. Khi người đàn bà trở lại, Mẹ đã hỏi bà ấy: “Bà đi đâu vậy?” Bà đã trả lời Mẹ thật đơn giản: “Con mang đến cho người hàng xóm của con – họ cũng đang đói!”.
Người hàng xóm của bà ấy là những người hồi giáo. Mẹ không ngạc nhiên vì bà ấy đã cho họ, bởi vì những người nghèo thì thực sự rất quảng đại. Nhưng Mẹ ngạc nhiên vì bà ấy biết rằng họ cũng đang đói. Như một định luật tự nhiên, khi chúng ta đau khổ, chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân chúng ta đến nỗi không còn thời giờ để nghĩ đến người khác. Người phụ nữ này, một cách nào đó, đã biểu tỏ lòng yêu thương quảng đại thật sự của Đức Kitô.
Ngày khác, hai người bạn của Mẹ đến thăm Mẹ. Họ đã mang tới cho Mẹ một món tiền khá lớn để Mẹ mua thức ăn cho người nghèo (các bạn phải biết rằng chỉ riêng tại Calcutta, chúng tôi nuôi ăn mỗi ngày gần chín ngàn người). Mẹ hỏi họ: “Các con có được món tiền này ở đâu thế ?” Họ trả lời: “Chúng con mới cưới nhau cách đây hai ngày, nhưng trước khi cưới nhau, chúng con đã quyết định không tổ chức đám cưới linh đình. Và như một bằng chứng tình yêu chúng con dành cho nhau, chúng con muốn mang biếu số tiền này cho Mẹ Têrêsa”.
Đây là điều vĩ đại nơi người trẻ của chúng ta ! Họ quảng đại biết bao !Mẹ còn hỏi họ; “Tại sao các con đã làm điều đó ?” Họ trả lời: “chúng con yêu nhau nhiều đến nỗi chúng con muốn chia sẻ tình yêu cuiar chúng con cho những người khác, đặc biệt với những người mà Mẹ đang chăm sóc”.
Mẹ không bao giờ quên được một đứa bé Hindu bốn tuổi đã dạy cho Mẹ cách bày tỏ tình yêu thật cao cả. Đó là vào lúc tại Calcutta đang khan hiếm đường ngọt. Mẹ không biết làm thế nào mà đứa bé đã nghe được rằng Mẹ Teresa không còn đường để phân phát cho các trẻ em. Em đã đi về nhà và nói với cha mẹ: “Con sẽ không ăn đường trong ba ngày. Con sẽ biếu phần đường của con cho Mẹ Teresa”Đứa trẻ đó đã yêu thương với một tình yêu thật cao thượng. Em đã yêu cho đến khi cảm thấy đau xót. Và chúng ta cũng phải yêu như vậy.
Cách đây một một gian, Mẹ đã làm một chuyến đi đến Ethiopia. Các sisters của Mẹ đang làm việc ở đó trong suốt thời gian hạn hán thật khắc nghiệt. Vào lúc mà Mẹ chuẩn bị ra đi, Mẹ liền phát hiện có rất nhiều trẻ em đang vây xung quanh mình. Mỗi đứa đều mang theo một cái gì để gởi tặng. Chúng thi nhau nói: “Mẹ hãy cầm lấy cái này để cho các trẻ em ! Mẹ hãy gởi cái này cho các bạn ở đó !”Chúng đã mang rất nhiều quà mà chúng muốn biếu tặng cho người nghèo.
Sau đó một đứa trẻ rất nhỏ, lần đầu tiên có một miếng chocolate, đến sát bên Mẹ và nói: “Con không muốn ăn thỏi chocolate này. Mẹ hãy mang cho các bạn ở đó”. Đứa nhỏ đó đã cho chúng ta một sự thỏa thuận thật cao thượng, bởi vì em đã cho tất cả những gì em có, nó đã cho đi điều thật quí giá đối với em.
Đã bao giờ bạn có kinh nghiệm về niềm vui được trao ban chưa ?Mẹ không muốn các con cho Mẹ những cái dư thừa của các con. Mẹ không bao giờ cho phép người khác gây quĩ để giúp Mẹ. Mẹ không muốn điều đó. Mẹ muốn các con trao ban chính bản thân các con.
Chính tình yêu được gửi gắm trong quà tặng mới là điều quan trọng nhất. Nếu các con muốn có một gia đình hạnh phúc, nếu các con muốn có một gia đình thánh thiện, hãy học cách chia sẻ. Hãy trao tặng đôi bàn tay để phục vụ và hiến dâng trái tim để yêu thương.
Cách đây một thời gian, chúng tôi có một cộng đoàn nhỏ ở Guetemala. Chúng tôi đã đến đó khi xảy cuộc động đất năm 1972, cuộc động đất đã gây rất nhiều thiệt hại.
Các sisters ở Guetamala đã đến phục vụ và chăm sóc như họ đã từng làm như thế ở mọi nơi. Họ đã kể cho tôi nghe một câu chuyện thật đẹp về một người đàn ông rất nghèo được người ta đưa về từ đườn phố đến một trong các nhà của chúng tôi. Ông ta rất yếu mệt, bệnh hoạn và đói. Nhưng không biết làm thế nào, vơi sự giúp đỡ của mọi người, ông ấy đã được phục hồi và khỏe lại.
Ông ấy nói với các sisters: “Con muốn ra đi và để chiếc giường của con cho người khác, những người đang cần đến một chiếc giường như con đã rất cần nó khi con mới đến đây.” Và tôi tin rằng bây giờ ông ấy đã có một việc làm. Tôi không nghĩ rằng ông ta kiếm được nhiều tiền, nhưng ông ấy đang đi làm. Mỗi khi ông kiếm được một ít tiền, ông lại nhớ đến những người kém may mắn khác đang ở nhà của họ, và thế là ông đến gặp họ.
Ông ta luôn mang một cái gì đó cho họ. Thậm chí với một khoản tiền ít ỏi ông có, ông cũng luôn mang một cái gì đến với họ.
Đây là món quà lớn nhất của người nghèo của chúng ta : tình yêu mà họ có.
Mẹ không muốn người ta cho những thứ mà họ muốn tống khứ đi. Ở Calcutta có nhiều người có rất nhiều tiền và đôi khi họ muốn tống bớt đi. Nhà nước Ấn Độ luôn đặt một áp lực rất nặng trên những người giàu có. Những người này thỉnh thoảng có những món tiền để dành, những món tiền mà họ cố gắng cất giấu. Trong một vài trường hợp họ gói thành một gói, viết tên của Mẹ Teresa trên đó, và gửi chúng đi.
Cách đây vài ngày, Mẹ đã nhận một gói quà được gói bằng giấy thô. Mẹ nghĩ có lẽ đó là một gói tem, thiệp, hoặc một thứ gì giống như thế, và Mẹ đã để nó sang một bên. Mẹ định sau đó, khi nào có thời giờ Mẹ sẽ mở.Một vài giờ sau, Mẹ đã mở gói giấy đó mà không một chút nghi ngờ về những gì bên trong. Và thật là khó tin vào mắt mình. Đó là một gói giấy chứa hai mươi ngàn rúp-pi. Gói quà không ghi địa chỉ của người gửi hay một mẩu tin nhắn nào, điều này làm Mẹ nghĩ rằng đó có thể là một món tiền nợ của nhà nước.
Mẹ không thích người ta gửi cho Mẹ những thứ mà họ muốn tống khứ đi. Cho đi là một diều khác hẳn. Đó là sự chia sẻ.
Cách đây không lâu, một người phụ nữ Hindu rất giàu có đến gặp Mẹ. Bà ta ngồi xuống và nói với Mẹ: “Con muốn chia sẻ công việc với Mẹ.” Ở Ấn Độ, càng ngày càng có nhiều người muốn giúp đỡ và chia sẻ công việc như bà. Mẹ nói: “Tốt lắm.”Người phụ nữ này có một nhược điểm mà có lần bà đã thú nhận với Mẹ: “Con rất thích những chiếc áo sari đẹp đẽ và sang trọng.” Thật vậy, bà ấy lúc nào cũng mặc những chiếc sari thật đắt tiền, có khi giá mua đến cả tám trăm đồng rúp-pi. Cái của Mẹ giá chỉ có tám rúp-pi một cái. Áo của bà ta đắt gấp trăm lâng cái áo của Mẹ.
Sau đó, Mẹ đã cầu nguyện xin Đức Mẹ Đồng Trinh giúp Mẹ tìm ra phương cách thích đáng để bà ấy có thể chỉ sẻ công việc của các nữ tu. Một ý nghĩ chợt lóe lên, và Mẹ nói với bà ấy: “Mẹ muốn con bắt đầu chia sẻ với những chiếc áo sari. Lần tới, khi con đi mua áo, thay vì phải trả tám trăm rúp-pi, con hãy mua cái giá năm trăm. Như vậy, với ba trăm rúp-pi còn dư, con sẽ mua những chiếc sari cho người nghèo.”
Người phụ nữ tốt lành giờ đây đang mặc những chiếc sari giá chỉ một trăm rúp-pi, và đó là bởi vì Mẹ đã nói bà ấy không được mặc những chiếc rẻ hơn thế nữa. Bà đã thú nhận với Mẹ rằng điều này đã làm thay đổi cuộc đời của bà. Giờ đây bà đã hiểu chia sẻ có ý nghĩa như thế nào. Người phụ nữ đó chắn chắn với Mẹ rằng bà đã nhận được nhiều hơn những gì bà đã cho đi. Điều này luôn là cách thức hoạt động của những cộng sự viên chúng tôi.
Chúng ta cần mang lời cầu nguyện vào cuộc sống gia đình. Qua cầu nguyện, chúng ta có thể dạy cho con cái và những người thân của chúng ta biết sống cho đi và chia sẻ. Chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn qua những lời cầu nguyện chân thực hơn là những lời nói suông. Chúng ta không nên dùng những lời nói suông để thuyết phục người khác cho tiền. Việc cầu nguyện và những lời yêu cầu của chúng ta phải đi đôi với nhau. Chúng ta không thể chỉ làm điều này mà không làm điều kia. Hai việc này phải bổ túc cho nhau.
Chúng tôi cần tiền, cần thuốc men, cần quần áo và hàng ngàn thứ khác cho những nghèo mà chúng tôi đang chăm sóc. Nếu như không có nhiều người quảng đại giúp chúng tôi, thì hàng ngàn người sẽ bị bỏ rơi không có ai giúp đỡ. Bởi vì chúng tôi có rất nhiều người nghèo, già cả, trẻ em và cả các gia đình đang sống ngoài đường phố- không chỉ ở tại Calcutta mà còn ở Luân Đôn, Rotterdam, Marid, Marseilles, và tại Rôma- nhu cầu trợ giúp thật lớn. Tại Rôma chúng tôi có rất nhiều người nghèo. Các sisters ban đêm thường ra ngoài đường, đặc biệt là gần các trạm xe lửa từ 10 giờ đêm đến 2 giờ sáng để tìm những người vô gia cư và đưa họ về nhà của chúng tôi ở San Regorio al Cielo.
Lần cuối cùng khi Mẹ ở Rôma, Mẹ cảm thấy thật không thể chịu nổi khi có quá nhiều người đang sống như thế ngoài đường phố. Vì thế, Mẹ đã đến gặp ông thị trưởng của thành phố Rôma và nói: “Xin ông hãy cho chúng tôi một nơi để giúp những người này, bởi vì họ từ chối không đến với chúng tôi và cứ thích sống ngoài đường hơn.” Ông thị trưởng và Ban làm việc của ông đã rất nhiệt thành trước lời đề nghị của Mẹ. Chỉ trong một vài ngày, họ đã trao tặng Mẹ một nơi rất đẹp gần trạm xe lửa Termini. Hiện tại, tất cả những ai không có nơi nào qua đêm, ngoại trừ trên các vỉa hè, đều đi đến đó và ngủ trên giường ấm. sáng hôm sau, họ lại ra đi.
Mẹ không muốn các con cho Mẹ cái mà các bạn bỏ đi. Mẹ muốn các con trao ban cái các con cần cho tới khi các con cảm thấy cần đến nó.
Ngày kia Mẹ nhận được mười lăm đôla của một người đàn ông đã bị liệt hai mươi năm. Bệnh liệt chỉ còn cho phép ông cử động cánh tay phải. Bầu bạn duy nhất của ông là hút thuốc lá. Ông ta nói với Mẹ: “THưa Mẹ, con mới ngưng hút thuốc một tuần nay. Con xin gửi Mẹ số tiền con tiết kiệm được vì không hút thuốc lá.” Chắc chắc đây phải là một hy sinh ghê gớm đối với ông ta.
Nhưng hãy nhìn vào vẻ đẹp trong hành vi chia sẻ trao ban của ông ấy. Mẹ đã mua bánh mì với số tiền của ông ta, và chia số bánh đó cho những người đang đói. Như vậy cả ngưởi cho và kẻ nhận đều vui mừng: người bại liệt trao ban và người nghèo lãnh nhận.
Đây là điều mà tất cả chúng ta câng học hỏi. Cơ hội để chúng ta trao tặng tình yêu của mình cho người khác là một quà tặng của Thiên Chúa. Ước gì điều này xảy đến cho chúng ta như đã từng diễn ra nơi Chúa Giêsu. Chúng ta hãy mến thương nhau như Ngài đã thương mến chúng ta. Chúng ta hãy yêu thương nhau bằng một tình yêu không chia sẻ. Chúng ta hãy nếm thử niềm vui yêu mến Thiên Chúa và yêu thương đồng loại.
Chúng ta có đối xử với người nghèo như nhưng nơi để chúng ta bỏ bất cứ thứ gì chúng ta không thể dùng được hay ăn được ? Tôi không thể ăn thức ăn này được nên tôi sẽ cho nó cho người nghèo. Tôi không thể dùng được thứ này hay mặc bộ quần áo kia nên tôi sẽ đêm cho người nghèo. Nếu như vậy, tôi có đang chia sẻ sự nghèo khó của người nghèo không ? Tôi có đồng hóa mình với người nghèo mà tôi đang lo lắng không ? Tôi có phải là một trong số họ không ? Tôi có chia sẻ với họ như Đức Kitô đã chia sẻ với tôi không ?
Đây là nhiệm vụ tuyệt vời của ơn gọi chúng ta, như những Thừa Sai Bác Ái, chúng ta đã tạo nên sự nhận thức về người nghèoowr khắp nơi trên thế giới. Cách đây hai mươi năm, không có ai tin rừng có những người đói ăn, không đủ áo mặc bên cạnh mình. Ngày nay cả thế giới biết đến người nghèo của chúng ta nhờ công việc phục vụ của chúng ta. Và bởi vì họ biết nên họ muốn chia sẻ.
Một ngày kia, có một nhóm học sinh người Hindu từ một nơi xa đã đến với chúng tôi. Các em vừa mới đoạt được một giải thưởng thể thao ở trường học và đã xin thầy hiệu trưởng thưởng cho các em tiền thay vì trao giải danh dự. Sau đó, các em nói: “Bây giờ chúng em hãy đến Mẹ Teresa. Chúng em muốn tặng món tiền này cho những người nghèo của Mẹ.” Thật tuyệt vời khi các em đã không muốn dùng tiền đó cho các em ! Bởi vì chúng ta đã tạo nên sự nhận thức này: tất cả mọi người đều muốn chia sẻ và lo cho người nghèo.
Bất cứ khi nào Mẹ nhận một món tiền hay một phần thưởng nào, Mẹ luôn nhận nó nhân danh những người nghèo mà họ biết được qua Mẹ. Mẹ là ai ? Mẹ chẳng là gì cả. Chính là người nghèo mà họ nhận biết qua việc làm của Mẹ và họ muốn giúp đỡ cho những người này, bởi vì họ đã nhìn thấy những công việc chúng ta làm. Ngày nay mọi người trên thế giới đều muốn nhìn thấy. Tại sao ngày nay hội dòng của chúng ta đã lan tràn và hoạt động trên khắp trên thế giới ? Chính bởi vì họ đã nhìn thấy công ciệc của chúng ta: cho người đói ăn, cho kẻ mình trần áo mặc, chăm sóc người đau yếu, kẻ hấp hối và những người phong cùi. Bởi vì họ đã nhìn thấy nên họ tin. Thật buồn biết bao nếu chúng ta không thành thực trong việc chúng ta làm.
Chúng ta, những người đã biết Đức Giêsu, yêu Đức Giêsu và đã tận hiến cho Ngài, chúng ta phải yêu như Ngài đã yêu. Ngài đã ban cho chúng ta Bánh Hằng Sống để chúng ta có thể yêu như Ngài đã yêu thương chúng ta. Ngài vẫn còn tiếp tục nói với chúng ta: “Như Cha đã yêu Thầy, Thầy cũng yêu mến các con”(Ga 15,9) Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta như thế nào ? Ngài đã trao ban chính mình cho chúng ta. Đây sẽ là cách thức chúng ta yêu thương nhau: trao ban chính mình cho người khác, trao ban cho đến khi cảm thấy đau xót.
… chính khi thứ tha là khi chúng con được tha thứ …
Chúng ta hãy luôn nhớ rằng cộng đoàn của chúng ta không phải được hình thành từ những người đã là thánh, nhưng từ những người đang cố gắng trở nên thánh thiện. Vì thế, chúng ta phải hết sức kiên nhẫn với những khuyết điểm và thất bại của nhau.
Không ai trong chúng ta có quyền kết án bất cứ người nào. Cho dù chúng ta thấy có những người làm điều xấu, nhưng chúng ta không biết rõ tại sao họ làm như vậy. Chúa Giêsu đã kêu gọi chúng ta đừng bao giờ kết án. Vì có thể chúng ta là những người đã góp phần tạo ra tính tình và con người của họ. Chúng ta cần nhận ra rằng họ là anh chị em của chúng ta. Người phong đó, anh nghiện rượu đó, và người đang đau bệnh đó là anh em của chúng ta bởi vì họ cũng đã được tạo dựng cho một tình yêu lớn lao hơn. Đây là điều mà chúng ta không bao giờ được quên. Chúa Giêsu Kit ô đã đồng hóa chính Ngài với những người này khi nói: “Bất cứ điều gì các con làm cho những người anh em hèn mọn nhất của Thầy đây, là các con đã làm cho chính Thầy” Người bệnh phong đó, người nghiện ngập đó, người ăn xin đó là anh em của tôi. Và có lẽ chính vì chúng ta đã không trao tặng họ tình yêu và sự hiểu biết của chúng ta mà giờ đây họ đang phải ở ngoài đường không được ai chăm sóc và không có ai yêu thương.
Có thể là những đứa trẻ thường thi hỏng nhiều lần trong các bài kiểm tra khi chuẩn bị cho việc rước lễ lần đầu. Đừng bao giờ chịu thua và chán nản. Cũng đừng như thế khi cố gắng dàn xếp cho những đôi hôn phối hoặc hoán cải một người tội lỗi, nếu không bạn sẽ thành công. Nếu bạn chán nản thì đó là dấu bạn kiêu ngạo, bởi vì điều đó cho thấy rằng bạn tin tưởng vào khả năng riêng của bạn. Đừng bao giờ buồn bực về những quan điểm của người khác. Hãy khiêm nhường và bạn sẽ không bao giờ bị xáo trộn.
Mẹ đã kinh nghiệm rất nhiều khuyết điểm và yếu đuối của con người, và Mẹ vẫn còn đang gặp những con người yếu đuối và khiếm khuyết. Nhưng chúng ta cần dùng những người này. Chúng ta cần làm việc cho Đức Kitô với một tấm lòng khiêm nhượng, với sự khiêm hạ của Đức Kitô. Ngài đã đến và xử dụng chúng ta để chúng ta được trở nên lòng trắc ẩn và tình thương mến của Ngài trên khắp thế giới bất chấp những khuyết điểm và yếu đuối của chúng ta.
… chính lúc chết đi là khi chúng ta được tái sinh trong cuộc sống muôn đời …
Cái chết là khoảnh khác kiên quyết nhất trong đời sống con người. Nó giống như sự đăng quang của chúng ta: chết trong bình an với Thiên Chúa. Mẹ chưa bao giờ thấy một ai chết trong sự tuyệt vọng hay nói những lời phạm thượng. Tất cả họ đều đã chết trong sự thanh thản và vui tươi.
Một ngày nọ Mẹ đã tìm thấy và đưa về nhà một người đàn ông bị rơi xuống rãnh nước. Mình mẩy ông ta bu đầy những con dòi.
Mẹ đã mang ông ta về nhà, và người đàn ông này đã nói gì ?
Ông ta không nguyền rủa ai. Ông cũng chẳng phàn nàn trách cứ ai. Ông chỉ nói: “Tôi đã sống như một con vật ngoài đường, nhưng giờ đây tôi sắp được chết như một thiên thần, được mọi người yêu thương và săn sóc !”
Chúng tôi đã tắm rửa cho ông trong ba giờ đồng hồ. Cuối cùng, ông ngước mắt nhìn các sisters và nói: “Các soeurs ơi, tôi sắp về với Chúa.” Và sau đó ông đã chết. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người nào có nụ cười rạng rỡ như nụ cười trên khuôn mặt của ông lúc bấy giờ này. Ông đã đi về nhà Chúa.
Hãy nhìn xem điều mà tình yêu đã có thể làm được !
Có thể là chị nữ tu trẻ tuổi không nghĩ tới, nhưng chính trong giờ phút đó chị đã thực sự chạm đến thân mình Đức Kitô. Chúa Giêsu đã nói điều đó khi Ngài phán : “Mỗi khi con làm điều đó cho một trong những anh em hèn mọn nhất của Thầy, là con đã làm điều đó cho chính Thầy.”(Mt 25, 40).
Và đây là nơi mà bạn và tôi hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa. Ngài đã khơi lên tình yêu của Ngài trong trái tim chúng ta, để chúng ta có thể yêu thương những người chúng ta gặp gỡ với chính tình yêu của Ngài.
Rất thường khi chúng tôi đi gom những người đau yếu và hấp hối trên các đường phố Cacutta và đưa về nhà của chúng tôi. Trong hai mươi lăm năm chúng tôi đã đưa về ba mươi sáu ngàn người nằm ngoài đường phố về những nhà của chúng tôi và có hơn tám ngàn người đã ra đi trong thanh thản, hạnh phúc. Khi chúng tôi đưa những người từ ngoài đường về nhà, chúng tôi thường cho họ ăn. Chẳng bao lâu chúng tôi đã làm họ hồi phục. Cách đây vài đêm, chúng tôi ra ngoài và đưa về bốn ngươi. Một người trong số họ ở trong tình trạng rất yếu và nguy kịch, mình đầy những vết thương đã có giòi. Mẹ nói với các sisters rằng Mẹ sẽ chăm sóc cho người này và họ sẽ lo cho ba người kia. Thực lòng Mẹ đã làm tất cả những gì mà tình thương mến của Mẹ có thể làm được cho bà ấy. Mẹ đặt bà ấy lên giường và bà ấy đã nắm lấy tay Mẹ và giữ trong tay mình. Bà đã nở một nụ cười thật hạnh phúc, rồi chỉ nói: “Cám ơn” Sau đó bà đã chết. Có một điều gì đó thật lớn lao của tình yêu. Bà ấy đã đói khát tình yêu thương, và bà đã nhận được tình yêu đó trước khi nhắm mắt lìa đời. Bà đã chỉ nói được hai từ, nhưng tình yêu đầy hiểu biết của bà đã được diễn tả trong chính hai từ ấy. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nụ cười nào rạng rỡ như vậy.
Mẹ càng chắc chắn hơn rằng tất cả những người đã chết trong nhà của chúng ta đang ở trên thiên đàng. Họ là những vị thánh thực sự. Họ đang ở trước nhan Thiên Chúa. có thể họ đã không được yêu mến trên mặt đất, nhưng họ là những con cưng của Thiên Chúa. Vì thế Mẹ muốn cầu nguyện và cám ơn Thiên Chúa vìo tất cả những điều tốt đẹp mà các sisters đã làm trong nhà hấp hối. Mặc dù ngôi nhà là một phần của ngôi đền Kali, đền của nữ thần khủng bố, nhưng điều ngự trị trên tất cả ở đó lại là niềm vui được giúp đỡ những người đau yếu và đau khổ chết trong bình an với Thiên Chúa.
Ở New York chúng tôi có một nhà cho những bệnh nhân AIDS đang chết vì căn bệnh mà Mẹ thường gọi là “bệnh phung hủi của phương tây”. Vào ngày lễ Giáng Sinh, Mẹ đã mở cửa ngôi nhà này như một món quà cho Chúa Giêsu nhân ngày sinh nhật của Ngài. Chúng tôi bắt đầu với năm mươi giường cho một vài bệnh nhân AIDS và cho bốn thanh niên mà Mẹ đã đưa ra khỏi nhà tù vì họ không muốn chết trong đó. Họ là những vị khách đầu tiên của chúng tôi.
- Mẹ đã xây cho họ một phòng nguyện nhỏ. Ở đó, những thanh niên này- những người đã chưa bao giờ gần gũi Chúa Giêsu, hoặc đã từng có lúc cầunguyện và xưng tội- có thể đến và trở về với Ngài nếu họ muốn.
Có một lần khi Mẹ đang ở đó, một trong số những bệnh nhân này chuyển bệnh nặng và phải nhập viện. Anh ta nói với Mẹ: “Mẹ Teresa, Mẹ là bạn của con. Con muốn nói chuyện với một mình Mẹ.” Vì thế các sisters đã ra ngoài, và anh ta bắt đầu nói. Người đàn ông này đã nói gì ? Đây là câu chuyện của một người đã không xưng tội và chịu Mình Thánh cHúa trong suốt hai mươi lăm năm. Trong những năm tháng đó, anh ta đã chẳng có gì làm hay liên hệ gì với Chúa Giêsu.
Anh ta nới với Mẹ: “Mẹ biết không, thưa Mẹ Teresa, khi con dau đầu quá sức, con so sánh nó với cơn đau mà Chúa Giêsu đã cảm nhận khi quân dữ đội vòng gai sắc lên đầu Ngài. Khi con đau lưng quá đỗi, con liên tưởng tới sự đau đớn của chúa Giêsu khi Ngài oằn lưng dưới sức nặng của thập giá. Khi con đau nhức nơi tay và chân, con thưởng tượng tới nỗi đau đớn mà Chúa Giêsu đã phải chịu khi chúng đống đinh vào tay chân của Ngài. Con xin mẹ hãy đưa con về nhà. Con muốn được chết trong tay Mẹ.”
Mẹ đã xin bác sĩ cho anh ta về nhà với Mẹ. Rồi Mẹ đưa anh vào nhà nguyện. Mẹ chưa bao giờ thấy một người nào nói chuyện với Chúa Giêsu như cách mà anh ta đã nói chuyện với Ngài. Sự thực đã có một tình yêu hiểu biết và cảm thông giữa Chúa Giêsu và người thanh niên này. Ba ngày sau, anh đã chết.
Thực khó hiểu sự thay đổi mà người thanh niên đã trải qua. Cái gì đã mang đến điều đó ? Có lẽ chính vì tình thương yêu mà các sisters đã trao tặng anh đã giúp cho anh hiểu được rằng Thiên Chúa đã thương mến anh.
Chúng ta- những người công giáo- chúng ta được tạo dựng cho những điều thật lớn lao. Chúng ta đã được tạo dựng để trở nên thánh thiện vì chúng ta đã được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Vì lý do đó, khi một người nào đó chết thì nghiã là người đó đi về nhà Chúa. Đó là nơi mà tất cả chúng ta đều phải đi về. Cái chết là một điều gì đó thật đẹp. Nó giống như chúng ta đi về nhà của mình. Ai chêt trong bình an của Thiên Chúa thì đi về nhà của mình; mặc dù, theo tính tự nhiên, chúng ta thường thương nhớ những người đã ra đi. Nhưng đó thật sự là một điều gì đó thật đẹp. Bởi vì người đó đã đi về nhà Thiên Chúa.
|