|
MỤC VỤ CHO NHỮNG NGƯỜI NGHÈO NHẤT TRONG NHỮNG NGƯỜI NGHÈO
TẠI SÀI GÒN, VIỆT NAM
THEO LINH ĐẠO CỦA MẸ TERESA CALCUTTA
CHẠM ĐẾN
THỂ XÁC
và
TÂM LINH
LUẬN ÁN
đệ trình tại Trường Graduate Theological Foundation
để hoàn tất thủ tục nhận văn bằng Tiến sĩ Mục Vụ
Do
Linh mục Phạm Văn Hanh
Giáo phận Corpus Christi, Texas
Indiana
2007
Copyright © 2008 by Hanh Van Pham
THUỘC BẢN QUYỀN
Không ai được phép in lại hoặc copy phần nào bằng mọi cách
ngoại trừ được phép của tác giả.
Muốn in ấn, xin liên hệ địa chỉ dưới đây :
Rev. Hanh Van Pham
St. Philip Apostle Church
3513 Cimarron Blvd.
Corpus Christi, Texas 78414
hoặc email Frhanh@stx.rr.com
Sinh viên được toàn quyền giữ bản thảo luận án này.
Cố vấn : Đức Ông
Leonard Pivonka, Tiến sĩ Giáo luật
---------------------------Quản hạt Giáo hạt Alice
---------------------------Cha sở Giáo xứ Thánh Elizabeth
Hungary
---------------------------603 Fifth Street
---------------------------Alice, Texas 78333 – 1009
Sửa bản thảo :
Ông Leo Mason
---------------------------Giáo dân
LỜI ĐỀ TẶNG
Xin khen ngợi
quí cha, quí tu sĩ nam nữ và mọi người đang tận tâm phục
vụ trong vườn nho của Chúa,
đặc biệt cho những người nghèo nhất
trong những người nghèo.
Cầu mong họ nhận ra Chúa Kitô đang ẩn thân
trong những người đau khổ.
Xin tri ân
Bố mẹ là những người đã nuôi nấng và uốn nắn con trong
đức tin,
trong lòng yêu mến Chúa và tha nhân,
bố mẹ đã nâng đỡ con
vững vàng trong thánh chức linh mục.
Xin ghi ơn
gia đình Giáo xứ Thánh Philiphê Tông đồ, quí vị đã cầu
nguyện,
yêu thương và khích lệ tôi nhiều
trong công việc này.
Bài luận án này được cống hiến
trong sự khiêm tốn và lòng biết ơn.
LỜI CÁM ƠN
Con rất biết ơn và ghi ơn Đức Cha Edmond Carmody - Giám mục địa phận
Corpus Christi. Đức Cha đã tạo điều kiện và khích lệ con theo học tiến
sĩ mục vụ trong khi con đang thi hành sứ mạng Cha Sở Giáo xứ Thánh Philiphê
Tông đồ. Xin Chúa ban cho Đức Cha ơn khôn ngoan và sức mạnh của Chúa để
Đức cha dẫn dắt đoàn chiên giáo phận.
Con xin cám ơn Đức Ông Leonard Pivonka - Tiến sĩ Giáo
luật, Quản hạt Alice và là Cha sở Giáo xứ Thánh Elizabeth
Hungary. Đức Ông đã cố vấn cho con luận án này và đã
chia sẻ cho con nhiều kinh nghiệm mục vụ, đã hướng dẫn con khi con là Cha
phó Nhà thờ Chính Toà Corpus Christi. Đức Ông là một cha sở mẫu mực để
con noi gương bắt chước trong vai trò cha sở họ đạo. Tôi cũng cám ơn Ông
Leo Mason đã không quản ngại thời giờ giúp tôi đọc và sửa bản thảo luận
án này.
Con biết ơn và không bao giờ quên Đức Hồng Y J.B. Phạm
Minh Mẫn - Tổng Giám mục Giáo phận Sài Gòn. Ngài là vị mục tử quan tâm
tới những người nghèo, những tệ nạn xã hội và đã chia sẻ cho con sự trăn
trở, mối lo ngại và những phương án để giảm bớt sự nghèo đói vật chất lẫn
tinh thần. Còn đối với các nữ tu Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô, tôi cũng xin
cám ơn quý vị đã chia sẻ và chỉ cho tôi con đường tốt nhất để yêu thương
và phục vụ những nghèo nhất trong những người nghèo. Các soeurs đã rất
cởi mở và chia sẻ cho tôi sứ mạng tốt đẹp và đã mời tôi tham gia vào Hiệp
hội những cộng tác viên, trở nên thành viên của gia đình Hội dòng. Tôi
hy vọng một ngày không xa, tôi sẽ được làm việc bên cạnh với các soeurs
trong sứ mạng rất đáng ngưỡng mộ này là yêu thương và chăm sóc cho những
người nghèo khổ, bất hạnh .
Con sẽ mãi mãi nhớ ơn bố mẹ, các anh chị và các em đã
luôn ở bên cạnh con trong lời cầu nguyện và hằng khích lệ, động viên con
trong thánh chức linh mục.

---------------------------------------------
---
TIỂU SỬ TÁC GIẢ
Linh mục Phạm Văn Hanh sinh ngày 21/7/1964 tại Bến Đá
- Vũng Tàu, miền Nam Việt Nam. Cha là Phạm Văn Thu, mẹ là Phạm Thị Hương.
Ngày 30/4/1975, nền Dân chủ miền Nam Việt Nam rơi vào chế độ Cộng sản
miền Bắc, gia đình của Cha đã phải chạy loạn và tản cư sang Hoa Kỳ. Sau
khi sống tại New Orleans được một năm, gia đình Cha đã chuyển đến Garden
Grove -California để đoàn tụ với ông bà và các cô chú đã xa cách suốt
thời gian loan lạc. Cha đã ghi danh và học tại Trường Trung học Cấp II
Jordan và sau đó tốt nghiệp ở Trường Trung học Bolsa. Tháng 8/1980, một
lần nữa gia đình Cha lại dời đến chỗ ở mới ở Rockport - Texas. Cha đã
tiếp tục việc học tại Trường Trung học Cấp III Rockport Fulton và đã
tốt nghiệp tháng 5/1982 tại đây. Sau đó, Cha đã ở nhà phụ giúp mẹ trong
vòng một năm khi người bố đột ngột qua đời trong một tai nạn xe hơi.
Tháng 8/1984, cha đến California và ở với người cậu của Cha tại đây để
theo học tại Trường Cao đẳng Golden West ở Huntington Beach - California.
Sau một năm đại học trường đời, Cha được nhận vô Đại Chủng Viện Trung
tâm Huấn luyện Thánh Gioan Vianê, và theo học tại Trường Đại học Del
Mar thuộc Thành phố Corpus Christi - Texas. Năm kế tiếp, Cha chuyển đến
Đại Chủng Viện Thánh Maria ở Houston - Texas và học tại Trường Đại Học
Thánh Tôma. Năm 1987, Cha tốt nghiệp bằng Cử nhân Văn Lý khoa tại Trường
Đại Học Tôma. Cha tiếp tục theo đuổi những nghiên cứu thần học và đã
lấy bằng Cao học Thần học tại Đại Chủng Viện Thánh Maria - thành phố
Houston vào tháng 5/1992. Ngày 25/06/1991, Cha chịu chức phó tế; và bảy
tháng sau, ngày 25/01/1992 Cha được thụ phong linh mục tại Nhà thờ Chính
Toà Corpus Christi, Giáo phận Corpus Christi - Texas.
Cha được chỉ định làm cha phó Nhà thờ Chính Toà Corpus
Christi từ năm 1992-1994. Năm 1994, Cha được thuyên chuyển đến Our Lady
of Perpetual Help, Corpus Christi và làm phó xứ đến 1995. Sau đó, ngài
lại được thuyên chuyển đến Nhà thờ Thánh Cyril và Thánh Methodius ở Corpus
Christi. Sau một thời gian ngắn ở đó, ngài được sai tới Nhà thờ Thánh Thomas
More năm 1996 và làm Cha sở tại đó 6 năm rưỡi. Chính trong thời gian giúp
xứ tại đây mà Cha đã bắt được liên lạc với người thầy ngày trước dạy Cha
trong 2 năm lớp bốn và lớp năm, đó là Soeur Marie Francoise Hà Thị Thanh
Tịnh - cũng là người chị tinh thần của Cha - ở Việt Nam. Soeur Marie Francoise
Hà Thị Thanh Tịnh là Bề trên Tổng quyền Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô
tại Sài Gòn, Việt Nam. Vào tháng 8/2000, sau 25 năm xa cách quê hương Việt
Nam, Cha Phạm Văn Hanh đã cùng với mẹ trở về Việt Nam để thăm lại bà con
họ hàng và cũng là thăm viếng một vòng những điểm truyền giáo của Dòng
Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô. Được chứng kiến những công việc bác ái của các
nữ tu nơi những người cùng khổ, đã từng làm đổi đời những con người bất
hạnh, Cha Phạm Văn Hanh đã rất cảm kích và xúc động đến nỗi Cha đã quyết
định dành hết năng lực và khả năng tài chánh của Cha để giúp cho Dòng Thừa
Sai Bác Ái Chúa Kitô, với hy vọng một ngày kia Cha sẽ dành hết thời giờ
để chung vai sát cánh làm việc cùng với các nữ tu trong sứ mạng truyền
giáo của họ. Cha đã thành lập Hiệp hội các Cộng tác viên của Dòng Thừa
Sai Bác Ái Chúa Kitô cho những người Việt Nam tại Mỹ có lòng quảng đại
và yêu thương người nghèo. Mặc dù các thành viên của Hiệp hội chưa nhiều,
nhưng họ đã trợ giúp cho các nữ tu rất nhiều trong việc mở rộng các điểm
truyền giáo cũng như trong việc gia tăng thêm ơn gọi cho Hội dòng. Năm
2002, Cha Phạm Văn Hanh đã được sai đến Nhà thờ Thánh Philiphê Tông Đồ
và hiện đang là cha sở tại Giáo xứ này. Tháng 12/2005, Cha ghi danh học
bằng Tiến sĩ Mục vụ tại Trường Graduate Theological Foundation ở thành
phố Indiana. Ngày 25/10/2007, Cha sẽ giới thiệu luận án này tại Trường
Graduate Theological Foundation như thủ tục quen làm để nhận văn bằng Tiến
sĩ Mục vụ. Cha mong sẽ dùng những gì mình đã học được trong khoá học Tiến
sĩ Mục vụ này như một chìa khoá để mở những cánh cửa còn đóng kín ở Việt
Nam và tạo điều kiện dễ dàng cho ngài tham gia những việc bác ái với các
nữ tu Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô để giúp đỡ cho những người nghèo nhất trong
những người nghèo.
LỜI GIỚI THIỆU
Thế giới mà chúng ta đang sống là một mái nhà có hàng
tỷ con người. Như một vấn đề thời sự, dân số
thế giới đã đạt 6 tỷ rưỡi vào năm 2005, và ngày
25/6/2007, con số này đã lên đến 6,723,472,750 người.
Người ta tiên đoán rằng trong một vài năm nữa,
dân số thế giới sẽ lên đến 7 tỷ. 99% của sự tăng
trưởng này hầu hết là từ các nước đang phát triển
hay các nước thuộc thế giới thứ ba. Trong hơn 6 tỷ rưỡi dân số này có hơn
3 tỷ người sống trong sự nghèo đói. Phần lớn trong 3 tỷ người nghèo
này thường tập trung tại các nước thuộc thế giới
thứ ba. Mặc dù không do lỗi của họ, những người kém may mắn này chỉ đơn
giản sinh ra trong một gia đình nghèo hay tại một đất nước nghèo, nơi mà
những cơ hội cải thiện đời sống rất hạn chế hoặc
không có lối thoát. Bản Báo cáo của Văn phòng Census US. cũng nói
rằng: « Hơn một nửa dân
số thế giới sống dưới mức thu nhập chung của người nghèo thế giới,
nghĩa là thu nhập dưới 2 đô-la mỗi ngày. » Con
số người nghèo khổng lồ này đại diện cho hơn
50% dân số thế giới. Mặc dầu trước mắt chứa chất
nhiều thất vọng, những người nghèo được đề cập ở đây vẫn có khả
năng làm việc và tích góp để tự mưu sinh và nuôi sống gia đình.
Giữa con số người nghèo không thể đếm hết này lại tồn tại một nhóm
người nghèo hơn nữa, những người sống trong những điều kiện hết
sức cùng quẫn, mà nếu không được người khác giúp đỡ, họ sẽ nắm
chắc sự chết. Nhóm người này được nhận diện như là những người
nghèo nhất trong những người nghèo.
Những người nghèo nhất trong những người nghèo
bao gồm những người nghèo về thể chất và cả người nghèo về tinh
thần. Những người này có thể được tìm thấy ở các nước thuộc thế
giới thứ ba cũng như tại các nước phát triển. Tuy nhiên, hầu như
họ tập trung tại các nước đang phát triển như: Ấn Độ, Trung Quốc
và Việt Nam. Có thể nói, phần lớn trọng tâm của luận án này sẽ
nhấn mạnh về những người nghèo nhất trong những người nghèo tại
Sài Gòn, Việt Nam. Về một khía cạnh nào đó, người nghèo trên thế
giới tiêu biểu cho một vấn nạn lớn cho tất cả chúng ta - những
người có một tình thương đặc biệt và có khả năng giúp đỡ họ. Thậm
chí, nếu chúng ta ở trong một chức vụ thuận lợi trong sứ mạng giúp
đỡ người nghèo, chúng ta cũng thường tự hỏi: « Chúng ta đã làm đủ chưa ? » « Chúng
ta còn có thể làm được gì hơn nữa để giúp đỡ người nghèo ? »
« Giáo hội đã dạy chúng ta điều gì về người nghèo ? »
« Đâu là phương cách tốt nhất và hiệu quả nhất để trợ giúp họ ? »
« Những nhu cầu vật chất của người nghèo đã được đáp ứng đầy
đủ chưa ? » «Thế còn những nhu cầu về tâm linh của
họ thì sao ?».
Những câu hỏi này quả thực là những câu hỏi có căn cứ
và cần được nêu lên. Mặc dù không phải tất cả mọi câu
hỏi đều có thể trả lời ; song, cũng có một số những vấn nạn
đặt ra đã được giải quyết nhờ những công việc bác ái của các tổ chức
từ thiện chuyên lo giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên, những tổ chức
từ thiện này lại tập trung quá nhiều về phương diện hành chính. Để
có một tổ chức từ thiện vận hành tốt và hiệu quả, đòi hỏi phải có
một ban làm việc qui mô với nhiều người làm việc. Phần lớn của những
khoản đóng góp chia sẻ này được dùng để trả lương cho những người
làm công việc hành chánh và quản lý của những tổ chức này. Vì thế,
khi những phần đóng góp từ thiện nhận được, chỉ có một phần rất nhỏ
của sự đóng góp chia sẻ này được chuyển tới tay của người nghèo và
những người thực sự cần đến nó. Rốt cuộc thì người nghèo vẫn ở trong
tình trạng hết sức thảm khốc, còn những khoản trợ giúp cần thiết
thì đã bị tiêu tán gần hết. Hơn nữa, rất nhiều tổ chức từ thiện chỉ
giúp theo thời và theo hoàn cảnh thay vì nhắc nhở việc từ thiện phải
ăn sâu vô đời sống hằng ngày của mình. Không cần phải nói, những
tổ chức từ thiện này chỉ đơn thuần thoả mãn một phần rất nhỏ những
nhu cầu vật chất của người nghèo. Những khía cạnh khác của người
nghèo, hay nói khác đi những nhu cầu tâm linh của họ thì hầu như
không bao giờ hoặc rất hiếm khi được đề cập hoặc nói đến.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không có một tổ
chức từ thiện nào trong các đoàn thể nhấn mạnh đến toàn diện con
người cả thể xác và tâm linh khi họ giúp đỡ người nghèo. Dòng Thừa
Sai Bác Ái của Mẹ Teresa là hội dòng bác ái chuyên lo và giúp đỡ
người nghèo, cả về thể xác và tâm linh. Những thừa sai của Mẹ thường
có mặt và làm việc tại những khu nhà ổ chuột của những thành phố
đông nghẹt người, trong đó có cả thành phố Sài Gòn tại Việt Nam.
Sài Gòn được xem như một trong những thành phố đông đúc trên thế
giới. Dòng Thừa Sai Bác của Mẹ Teresa cũng đã hiện diện một thời
gian ngắn ở tại đây. Tuy nhiên, chính quyền Cộng sản đã từ chối cấp
phép cho Mẹ và các nữ tu của Mẹ hiện diện và hoạt động giúp đỡ người
nghèo tại Việt Nam, chuyện này ai cũng biết. Mặc dù, sự hiện diện
của các thừa sai của Mẹ Teresa tại Sài Gòn rất ngắn, nhưng hạt giống
của những công việc bác ái này đã sinh nhiều hoa trái và hoa trái
đó là sự ra đời mới đây của một hội dòng sống theo tinh thần của
Mẹ Teresa và bắt chước những việc làm của Mẹ giữa những người nghèo
nhất trong những người nghèo. Hội dòng này đã được chính Mẹ Teresa
dạy dỗ và huấn luyện. Với sự tán thành của Đức Cố Tổng Giám mục Sài
Gòn Phaolô Nguyễn Văn Bình và Mẹ Teresa, Hội dòng được gọi tên là
Hội dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô.
Mục đích của luận án này là cho thấy ước mơ vốn có giữa
những người có năng lực để giúp đỡ người nghèo, chỉ ra rằng con đường
hữu hiệu nhất để giúp đỡ những người nghèo nhất trong những người
nghèo là đi theo linh đạo của Mẹ Teresa, cách thức những Thừa Sai
Bác Ấi Chúa Kitô chăm sóc những người nghèo nhất trong những người
nghèo tại Sài Gòn bằng cách bắt chước phương pháp của Mẹ Teresa -
đụng chạm vào họ cả về thể lý cũng như tâm linh, và tỏ cho thấy cách
thức mọi người trong mọi cuộc sống có thể tham dự vào sứ mạng tuyệt
vời này giữa những người nghèo nhất trong những người nghèo. Vì thế:
Bản luận án (1) phản ánh ước mơ yêu thương cố hữu trong mỗi người
đối với người nghèo; cách thức xã hội phân ngăn lòng bác ái cho người
nghèo theo mùa và theo tình huống, và giới thiêụ tình yêu thương
căn bản của Mẹ Teresa; (2) dừng lại ở ơn gọi thứ hai của Mẹ Teresa
- ơn gọi giữa lòng ơn gọi - và Linh đạo của Mẹ; (3) trình thuật cách
rõ nét ba lời khuyên Phúc âm: Vâng phục, Khiết tịnh, Khó nghèo và
lời khấn thứ Bốn - lời khấn chiếu sáng sứ mạng tông đồ của những
Thừa Sai Bác Ái; (4) phản ánh Linh đạo của Mẹ Teresa: thinh lặng,
cầu nguyện, tin tưởng, yêu thương, phục vụ, bình an; Thánh Thể và
mục tiêu làm vơi cơn khát cho Chúa Kitô; (5) kể lại cách chi tiết
việc Mẹ Teresa hiện diện tại Việt Nam; (6) nhìn về sự hình thành
của Hội dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô; (7) tập trung vào những người
nghèo nhất trong những người nghèo tại Sài Gòn, hay nói cách khác
là những cô gái lỡ lầm, các em cô nhi, những nạn nhân HIV/AIDS và
những cụ già neo đơn bị bỏ rơi; (8) khảo sát những hoàn cảnh của
các cô gái lầm lỡ; (9) phản ảnh tình trạng khó xử của các em cô nhi;
(10) nhìn về sự nguy hiểm của các nạn nhân HIV/AIDS; (11) xem xét
những nhu cầu của những cụ già neo đơn; (12) phản ánh khả năng của
những người đồng sáng lập Hội dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô. Ý định
của luận án này là cổ võ mọi người hãy can đảm sống tình bác ái yêu
thương, là điều vốn có sẵn trong mỗi người, và đi đến với những người
kém may mắn nhất trong xã hội. Có nhiều cách và phương pháp để giúp
đỡ người nghèo nhưng cách thức chạm đến người nghèo cả về thể lý
và tâm linh theo tinh thần của Mẹ Teresa đã được minh chứng là phương
thức được yêu thích và đáng ước mơ hơn. Mặc dù, mỗi người chúng ta
đều có một cuộc sống riêng tư và những bổn phận riêng phải chu toàn,
song bất cứ ai trong chúng ta cũng có khả năng giúp đỡ người nghèo
nhất trong những người nghèo theo Linh đạo của Mẹ Teresa mà vẫn trung
thành với ơn gọi hiện tại của mình.
Mơ Ước Yêu Thương Cố Hữu
Trong Con Người
Xã
Hội Phân Ngăn Lòng Bác Ái
Theo Thời và Theo Hoàn Cảnh
và
Tình Yêu Thương Căn Bản Của Mẹ Teresa
1.1 LỜI GIỚI THIỆU :
Yêu thương là tiếng gọi tự bản chất trong con người.
Sự rõ ràng của lời mời gọi yêu thương này có
thể tìm thấy dấu vết trong sách Sáng Thế khi tác giả cuốn sách này kể
cho chúng ta rằng chúng ta đã được tạo dựng bởi Thiên Chúa và cho Thiên
Chúa. Thánh Gioan Thánh sử đã mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa là
tình yêu. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhấn mạnh hơn về tầm quan trọng của
nhân đức yêu thương khi Ngài nói: “Cứ dấu này, người ta sẽ nhận biết
anh em là môn đệ Thầy là anh em yêu thương nhau.” Chúa Giêsu tiếp tục
tóm tắt Mười điều răn trong Sách Ngũ Thư vào hai giới răn Mến Chúa và
Yêu người. Là con người, chúng ta được tạo dựng để yêu và được yêu. Thiên
Chúa là nguồn tình yêu nguyên tuyền và tinh khiết nhất, song tình yêu
nơi con người thường bị uốn nắn cho phù hợp với những ước muốn và nhu
cầu riêng tư của mình. Tình yêu nhân loại của chúng ta thường được chia
sẻ với nhau tuỳ theo những hoàn cảnh thuộc thời gian và tình huống. Mặc
dù bất cứ một cử chỉ yêu thương bác ái nào dành cho những người xấu số
cũng đều đáng ca ngợi, song tình yêu không bị giảm thiểu bởi điều chúng
ta làm, nhưng tình yêu luôn luôn hệ tại ở chỗ chúng ta là. Xin cảm ơn
những công việc và gương sáng của Mẹ Teresa giữa những người nghèo nhất
trong những người nghèo, nhân đức yêu thương một lần nữa lại phục hồi
nhân phẩm của con người và được áp dụng để nhận được tình yêu trong đời
sống hằng ngày.
1.2 ƯỚC MUỐN YÊU THƯƠNG TỰ BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI
Mỗi người chúng ta đều được sinh ra với một ước muốn
là yêu và được yêu, như tác giả sách Sáng Thế đã viết:
“Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Người;
Người đã tạo dựng con người theo hình ảnh thiêng liêng của Người; Người
đã tạo dựng nên họ có nam có nữ.” Mặc
dù cho đến ngày thứ sáu trong công trình sáng tạo của
Thiên Chúa con người chúng ta mới được tạo dựng, nhưng
chúng ta tượng trưng cho đỉnh cao của công trình sáng
tạo này khi Thiên Chúa trao cho chúng ta quyền làm chủ và chế ngự chim
trời cá biển cùng các loài thụ tạo khác. Vì thế, tất cả mọi người đều có
thể yêu thương. Thật tự nhiên nếu chúng ta yêu chính mình, nhưng nếu chúng
ta biểu lộ tình yêu với tha nhân - đặc biệt với những người nghèo và những
người kém may mắn xung quanh chúng ta - thì chúng ta thực sự đang phản
chiếu hình ảnh của Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng nên chúng ta. Tình yêu
mà chúng ta đang sở hữu cho chúng ta và tha nhân đã được Thánh Gioan trình
bày rõ nét hơn khi ngài khích lệ chúng ta : “Hỡi các con bé nhỏ, chúng
ta hãy yêu thương nhau vì Thiên Chúa là tình yêu; ai yêu thương thì được
sinh ra bởi Thiên Chúa và người đó biết Thiên Chúa. Còn ai không yêu thương
thì không biết gì về Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.” Tình
yêu mà chúng ta chia sẻ chứng nhận bản tính đích thật
của Thiên Chúa và sự hiện hữu của Ngài trong cuộc sống
chúng ta. Chúng ta - những người yêu mến Thiên Chúa -
chúng ta cho thấy rằng chúng ta là con cái của Thiên Chúa, vì bản chất
thực sự của Thiên Chúa là tình yêu.
Yêu thương là sứ điệp Chúa Giêsu nhấn mạnh xuyên suốt
sứ mạng của Ngài khi Ngài còn tại thế. Trong đêm trước
khi chịu chết, Ngài đã trao phó cho các môn đệ một điều
răn mới: “Thầy ban cho các con một điều răn mới: Các
con hãy yêu thương nhau. Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng
phải yêu thương nhau. Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con
là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau.”Từ
lời nói này, chúng ta có thể chắc chắn rằng khi chúng
ta yêu thương người khác, chúng ta thực sự đang làm chứng
cho Thiên Chúa, và tuyên bố cho thế giới biết rằng chúng
ta là những người theo Ngài và là môn đệ của Ngài. Chúa Giêsu đã xem đức
ái và lòng yêu thương là dấu hiệu phân biệt của các môn đệ Ngài. Ở chỗ
khác, khi một nhà thông luật muốn gài bẫy Chúa Giêsu, hỏi Ngài rằng: “
‘Thưa Thầy, trong lề luật điều răn nào là điều răn trọng nhất ?’ Chúa Giêsu
nói với ông ta: ‘Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi hết tâm
hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi.’ Đây là điều răn thứ nhất và trọng
nhất. Còn đây là điều răn thứ hai: ‘Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính
ngươi.’ ”
Có một câu chuyện rất phổ biến được tuyên truyền giữa
những sinh viên Do Thái ngày nay để xem ai là người có
thể đứng trên một chân và đọc thuộc lòng tất cả những
điều luật của họ mà không bị té. Ai làm được điều này thành công thì được
xem như là người tuyệt vời nhất trong đám sinh viên. Nhưng thực tế đã chứng
minh rằng chẳng ai có thể làm được. Từ lúc ban đầu, chỉ có mười điều răn
được ban cho ông Môisê trên núi Sinai. Tuy nhiên, khi Chúa Giêsu xuất hiện,
những giới răn và luật lệ đã tăng lên hơn 600 điều luật chính không kể
những qui định nhỏ khác. Giữa hàng trăm những điều lệ và giới luật ấy,
Chúa Giêsu đã tóm gọn lại trong hai giới răn lớn nhất là yêu mến Đức Chúa
là Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn và hết sức, và yêu thương
người thân cận như chính bản thân. Khi nói điều đó, Chúa Giêsu đã biến
điều răn yêu thương tha nhân thành giới răn riêng của Ngài. Ngài còn muốn
các môn đệ của Ngài là đối tượng của lời nói yêu thương bác ái này : “Quả
thật, Thầy bảo cho các con biết, mỗi khi các con làm việc đó cho một trong
những anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, là các con đã làm nó cho chính Thầy.”
Sứ mạng yêu thương đã được ban và trao phó cho tất cả mọi
người. Trong khi vui mừng với sứ mạng yêu thương được
ban cho, chúng ta hãy nhìn ngắm và giữ gìn nó như một vinh dự khi chúng
ta được mời gọi để yêu thương và giúp đỡ những người nghèo, những người
đau ốm và những người đau khổ qua những việc bác ái của chúng ta để làm
dịu bớt đi những nhu cầu hết sức thiết thực của con người.
Trong khi yêu thương là một khuynh hướng tự nhiên của
tất cả mọi người, thì Giáo hội đã lấy đó làm dấu hiệu
đặc trưng của mình. Trong những buổi đầu sơ khai, Giáo hội đã kết hợp và
liên kết đức bác ái và bữa ăn Thánh Thể. Khi làm điều này, Giáo hội tỏ
ra mình là Thân Thể của Đức Kitô và Đức Kitô là đầu, hợp nhất bằng mối
dây bác ái và yêu thương. Trải qua nhiều thế kỷ, Giáo hội vẫn luôn đòi
hỏi những việc làm yêu thương bác ái như là sứ mạng và quyền lợi của Giáo
hội. Vì thế, những công việc của tình thương vẫn được xem như là một vinh
dự đặc biệt của Giáo hội. Giáo hội đã xem điều này như một sự bắt buộc
cho từng cá nhân cũng như cho các cộng đồng dân tộc - những người có khả
năng giúp đỡ để yêu thương những người nghèo và những người kém may mắn
nhất, khi nói rõ điều sau đây : “Bất cứ ở đâu mà con người còn cần đến
thực phẩm, đồ uống, quần áo, nơi trú ngụ, thuốc men, việc làm, học hành,
những phương tiện cần thiết để sống đúng nhân phẩm, bất cứ nơi nào mà con
người đang tàn lụi vì những rủi ro hay vì bệnh tật, những người đang đau
khổ vì phải tha hương hoặc bị tù đày, ... lòng bác ái Kitô giáo đòi hỏi
phải ra đi tìm đến họ và đưa họ ra khỏi những đau khổ đó, phải an ủi họ
với sự chăm sóc tận tuỵ và cho họ những sự trợ giúp tuỳ theo những nhu
cầu của họ. Đây là bổn phận đầu tiên và cao cả nhất đối với những người
giàu có và những quốc gia thịnh vượng.”
1.3 XÃ HỘI PHÂN NGĂN LÒNG
BÁC ÁI
Ngày nay, các hoạt động thừa sai và những công việc từ
thiện đã trở nên cấp bách và đang lan rộng trên khắp
thế giới. Với sự trợ giúp của những phương tiện truyền thông và kỹ thuật
hiện đại, nhận thức về nhu cầu phải giúp đỡ người nghèo khó và những người
kém may mắn được nâng cao chưa từng có. Những việc bác ái từ thiện không
những chỉ hoạt động trong những tập thể thuộc địa phương mà còn lan rộng
đến những cộng đồng khác khắp nơi trên thế giới. Mặc dù mọi người luôn
nhận thức rõ nhu cầu yêu thương và cho đi, nhưng một cách vô tình họ lại
bị tuỳ thuộc vào nền văn hoá và xã hội khi phân ngăn lòng bác ái theo những
qui định của hoàn cảnh và thời gian. Ở Mỹ, chúng tôi chia một năm làm hai
mùa, không phải là những mùa tự nhiên như: mùa xuân, mùa hè, mùa thu và
mùa đông, nhưng là mùa làm việc và mùa nghỉ ngơi. Những công việc bác ái
của xã hội cũng được xếp loại theo những hoàn cảnh trong các trường hợp
có thiên tai như: bão, lũ lụt, động đất hoặc sóng thần.
Ở Mỹ, ngày tiếp theo ngày Hội hoá trang là ngày đánh
dấu bắt đầu kỳ nghỉ việc và vacances, vì thế mùa được
gọi là mùa nghỉ ngơi này cũng được lồng vào như mùa Ban Ơn. Trong suốt
mùa này, không khí mỗi ngày trở nên lạnh hơn mang theo những khúc nhạc
Noel vui vẻ và những hộp thư đầy ắp những tấm thiệp chúc mừng Giáng Sinh
và năm mới. Cũng trong mùa nghỉ này mà nước Mỹ dường như xài tiền rộng
tay và nhiều nhất trong cả năm. Những người mua sắm thường vào những siêu
thị đông đúc, tìm những món quà ý nghĩa và tốt nhất cho những người thân
thích. Nhưng sự quảng đại trong mùa nghỉ này không chỉ là quan trọng và
cần thiết cho giới thương mại, nó còn là thời gian rất cao điểm cho những
việc bác ái từ thiện. Đây là thời gian mà ngân quỹ của những tổ chức từ
thiện được nâng cao và dồi dào hơn cả.
Vào bất cứ thời nào, trao ban và cho đi luôn là điều
được đánh giá cao và rất đáng ca ngợi; tuy nhiên, chúng
ta cũng không nên giới hạn lòng quảng đại và những công việc bác ái của
chúng ta vào từng lúc, từng thời. Rất nhiều giáo xứ tại địa phương đã rơi
vào sự cám dỗ tương tự và nguy hiểm này. Trong suốt mùa Ban Ơn, những nhóm
từ thiện tại các giáo xứ thuộc địa phương như: Hội Việc Làm Từ Thiện và
Hội Thánh Vinhsơn đệ Phaolô thường báo trước chương trình trợ giúp của
mình cho các gia đình nghèo đang cần được giúp đỡ cho Bữa ăn Tạ ơn. Những
giáo dân trong giáo xứ sẽ chọn xem mình sẽ giúp đỡ gì cho người nghèo:
một con gà cho Bữa ăn Tạ ơn hay là quần áo, hoặc là cả Bữa ăn. Thật đáng
ngạc nhiên là cũng có những giáo hữu thành tâm đã tìm hiểu và đáp ứng rất
hữu hiệu những nhu cầu cụ thể của từng gia đình nghèo. Theo sau Bữa ăn
Tạ ơn là Lễ Noel huy hoàng rực rỡ. Hội Việc Làm Từ Thiện và Hội Thánh
Vinhsơn đệ Phaolô vẫn tiếp tục những công tác từ thiện bằng việc tặng quà
cây Noel cho các gia đình nghèo đang cần những món quà Noel cho con cái
của họ. Mỗi một đồ trang trí trên cây thông tượng trưng cho một đứa con
của những gia đình nghèo không có chương trình tặng quà cho con cái mình.
Điều đáng chú ý là, món đồ trang trí cuối cùng thường được những giáo dân
này mang về. Trong những ngày này, những món quà Giáng Sinh sẽ đến cùng
với những đồ trang trí đã treo trên cây thông, và được đem đến cho những
trẻ em kém may mắn nhất.
Những tổ chức từ thiện tại các giáo xứ địa phương cũng
bị ảnh hưởng nhiều bởi lối giúp đỡ người nghèo tuỳ lúc,
tuỳ hoàn cảnh. Sống tại vùng duyên hải Gulf Coast, sự đe doạ của bão cuốn
khổng lồ đánh vỡ đất liền là một thực tế. Đây không phải là vấn đề bão
có xảy ra hay không, mà là khi nào thì bão đến. Cách đây không quá vài
năm, cơn bão Katrina đã tàn phá New Orleans và những thành phố lân cận
ở xung quanh. Trong nỗ lực giúp đỡ những nạn nhân của cơn bão Katrina,
những giáo dân đã được thúc giục làm cuộc quyên góp lần thứ hai để giúp
đỡ các nạn nhân. Tuy nhiên, sau một lần quyên tiền đã không còn ai xem
xét đến việc nạn nhân đã được ổn định hay chưa. Những điều tương tự như
vậy cũng đã xảy ra với những nạn nhân bão ở Trung Tây, nơi mà một thành
phố nhỏ đã hoàn toàn bị triệt hạ bởi liên tiếp những trận bão tàn phá cấp
F5. Một cuộc quyên góp đã được động viên đóng góp để giúp đỡ những nạn
nhân bị bão ở thành phố Mid West nhưng đó là lần cuối cùng chúng tôi được
nghe nói về chuyện này. Một vài năm trước, những thành phố miền duyên hải
ở Á Đông cũng đã bị tàn phá bởi cơn sóng thần là hậu quả của cuộc động
đất giữa lòng đại dương. Không thể đếm hết được những nạn nhân đã bị thiệt
mạng và những gia đình tan tác đau thương, chưa kể đến những mất mát tài
sản và nhiều kỷ niệm; một lần nữa, người dân khắp thế giới đã mở rộng tấm
lòng nhân ái của mình để cứu giúp những người bất hạnh này. Nhưng việc
này cũng chấm dứt cách nhanh chóng. Trong khi những công tác từ thiện được
đánh giá cao và đáng được ca ngợi, thì sự giáo dục của chúng ta đã sơ suất
và vô tình tạo điều kiện, huấn luyện cho những người có lòng tốt chia sẻ
và làm những việc bác ái theo thời và theo nơi. Lòng bác ái và tình yêu
thương thật sự thì không phải là từng lúc, từng thời hay từng nơi. Trái
lại, yêu thương được xem là vấn đề rất tế nhị và riêng tư. Vì con người
được tạo dựng theo hình ảnh yêu thương của Thiên Chúa, thì những việc bác
ái và những sự trợ giúp dành cho người nghèo phải nên là một cách sống.
1.4 TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA MẸ TERESA
Trải qua nhiều thế kỷ, đã có nhiều bậc đáng kính đã tận
hiến cả cuộc đời để đẩy mạnh, làm thăng tiến nhu cầu
trợ giúp người nghèo và thăng hoa việc làm này thành
một lối đường thiêng liêng của cuộc sống: những vị đó như Thánh Phanxicô
thành Assisi, người mà sau khi tỉnh ngộ từ một cuộc sống chơi bời phóng
đãng, đã từ bỏ tất cả những của cải thế gian để sống với và sống giữa người
nghèo; những vị đó là Albert Schweitzer, người mà sau khi được nghe Bài
trình thuật Tin Mừng của Lazarô và người giàu có, đã từ bỏ một tương lai
sáng lạn của một nghệ sĩ dương cầm trong Viện Âm nhạc Quốc gia Luân-Đôn,
để theo học và trở thành một bác sĩ y khoa, sang Châu phi sống như một
người nghèo để giúp đỡ người nghèo; và gần đây nhất là Mẹ Teresa, người
đã trở thành nhà vô địch của những người nghèo nhất trong những ngưòi nghèo
ở Calcutta, Ấn Độ và hiện nay là trên toàn thế giới. Phương thức chăm sóc
người nghèo khổ của Mẹ đã được rất nhiều người biết đến. Những công việc
bác ái yêu thương của Mẹ đã được bén rễ sâu từ những lời trong Tin mừng
Thánh Gioan: “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể và đã ở giữa chúng ta, và
chúng ta đã nhìn thấy vinh quang của Ngài.” Khi
suy gẫm đoạn Kinh Thánh này, Mẹ Teresa đã nhìn thấy rõ
ràng Chúa Kitô đau khổ đang cải trang trong con người
của những người nghèo khổ và bất hạnh. Mẹ đã xác tín rằng khi phục vụ chăm
sóc cho người nghèo nhất trong những người nghèo là Mẹ đang đụng chạm vào
chính Chúa Kitô cải trang trong những con người đau khổ đó. Được trang
bị với niềm xác tín này, Mẹ đã can đảm và không sợ hãi ôm lấy tất cả những
người nghèo đói và bất hạnh trong xã hội.
1.5 KẾT LUẬN
Chương đầu tiên chuẩn bị một cái nhìn lướt qua về tiếng
gọi yêu thương bác ái vốn có sẵn trong mỗi con người
đã được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh yêu thương của Ngài. Tất cả chúng
ta đều có khả năng thương yêu người khác vì Thánh Gioan đã kể cho chúng
ta rằng Thiên Chúa là tình yêu. Vậy, tình yêu là điều hết sức tinh tế.
Nhưng đáng tiếc là xã hội của chúng ta lại có khuynh hướng làm méo mó và
phân ngăn lòng bác ái với những công việc từ thiện theo thời - chẳng hạn
như mùa Ban Ơn - và theo nơi - chẳng hạn như nơi xảy ra những thiên tai,
bão lụt, v.v.... Bất cứ một công việc bác ái yêu thương nào cũng luôn được
đánh giá cao không kể điều đó được làm như thế nào và khi nào. Tuy nhiên,
chúng ta được kêu gọi làm nâng dậy và nâng cao lòng thương yêu- việc bác
ái của chúng ta như tấm lòng yêu thương và những việc bác ái của Mẹ Teresa.
Điều gì đã thúc đẩy và làm cho Mẹ có khả năng yêu thương và phục vụ người
nghèo theo cách thức mà Mẹ đã làm ? Chương kế tiếp sẽ khảo sát rõ hơn sự
giáo dục và huấn luyện mà Mẹ Teresa đã được hưởng lúc còn thơ ấu - điều
đã hun đúc Mẹ trở thành một nữ tu Dòng Đức Bà Loretto - và sự đáp trả của
Mẹ đối với ơn gọi trong lòng ơn gọi để trở nên một Thừa Sai Bác Ái, tận
hiến cả cuộc đời để phục vụ và yêu thương những con người bất hạnh.
CHƯƠNG II
Thời Thơ Ấu Của Mẹ Terasa
Ơn Gọi Trở Thành Tu Sĩ
và
Ơn Gọi Trong Lòng Ơn Gọi Để
Trở Thành Một Thừa Sai Bác Ái Theo Linh Đạo Của Mẹ
2.1 LỜI GIỚI THIỆU :
Khi còn bé, phần lớn trẻ em thường mơ ước sau này lớn
lên sẽ trở thành nổi tiếng, được giàu có, hay sẽ là người cứu cả thế
giới. Ước mơ duy nhất của Mẹ Teresa là được làm việc giữa những người
nghèo, bởi vì khi Mẹ mới chào đời, Mẹ rất yếu ớt và thường đau ốm luôn.
Ở tuổi niên thiếu, mục đích sống của Mẹ đã rất khác với những đứa trẻ
khác. Được sinh ra trong một gia đình công giáo đạo đức, Mẹ Teresa đã
từng nóng lòng khao khát được tận hiến cho Thiên Chúa trong đời sống
tu trì. Chương này gợi nhớ lại thời thơ ấu của Mẹ Teresa, sự giáo dục
mà Mẹ được thụ hưởng, sự nhận thức rõ ràng và lời mời gọi trở thành nữ
tu Dòng Đức Bà Loretto, và cảm hứng được sống và làm việc giữa những
người nghèo nhất trong những người nghèo. Ngay cả sau khi đã tận hiến
cuộc đời để làm nữ tu và nhà giáo, Mẹ vẫn để lòng mình rộng mở trước
lời mời gọi của Thiên Chúa. Một ngày kia, khi đang đi trên một chuyến
lửa đông nghẹt người, Mẹ đã nhận được một linh cảm và đã liều bỏ mọi
sự để đi theo tiếng gọi mới này, tiếng gọi mà Mẹ đã mạnh dạn nhận định
là “ơn gọi trong lòng ơn gọi”. Để đi theo tiếng gọi này, Mẹ Teresa đã
phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và hy sinh. Tuy vậy, Mẹ cũng đã
mở rộng tâm hồn và theo đuổi đến cùng cảm hứng mà Chúa Thánh Thần đã
gieo vào lòng Mẹ, và bỏ lại sau lưng tất cả những gì Mẹ đã từng biết
và trải qua. Mẹ biết rằng Thiên Chúa muốn dùng Mẹ để làm cho Danh Ngài
được cả thế giới biết đến. Mẹ đã thực sự hạnh phúc và đã rất sẵn lòng
cộng tác.
2.2 THỜI THƠ ẤU CỦA MẸ TERESA
Vị thừa sai sáng chói của tình yêu Chúa sinh ngày 26/8/1910
ở Skopje, Yugoslavia (ngày nay là một phần của nước Cộng
Hoà Macedonia). Mẹ là con út trong ba người con của ông Nikôla và bà Drana
Bojaxhiu. Cũng giống như tất cả mọi người công giáo đạo đức và tốt lành
ngày nay, Mẹ Teresa được rửa tội với tên gọi Gonxha Agnes. Gonxha là tên
gọi âu yếm mà gia đình đã đặt cho Mẹ, tên Gonxha có nghĩa là “người con
gái đẹp”. Tình yêu thương và sự chăm sóc của gia đình đạo hạnh đã rót
vào tâm hồn của Gonxha lòng yêu mến Chúa Kitô trong Phép
Thánh Thể, Gonxha đã được chịu Lễ Lần đầu lúc năm tuổi rưỡi. Tiếp tục được
giáo dục trong đức tin công giáo, cô đã lãnh nhận Bí tích Thêm Sức vào
tháng 11/1916. Từ ngay ngày đầu tiên được rước Mình Thánh Chúa, lòng yêu
mến các linh hồn đã chớm nở trong lòng Gonxha. Song, cuộc sống vô tư hạnh
phúc của cô đã sớm chấm dứt bởi cái chết đột ngột của người cha lúc cô
mới được tám tuổi. Nikôla, người cha của cô, là một thương gia, sinh sống
bằng nghề buôn bán và thầu khoán xây dựng. Người ta tin rằng ông đã bị
đầu độc và đã chết sau khi chịu một cuộc phẫu thuật. Gia
đình Teresa bất ngờ rơi vào tình trạng thiếu hụt tài
chính hết sức thảm khốc. Nhưng sự gian khổ đã không làm
nhụt chí bà mẹ Drana, bà vẫn cố gắng dưỡng nuôi và chăm sóc con cái trong
đường lối của Hội thánh. Bà đã bằng lòng làm một người thợ may và đã bắt
đầu lại sự nghiệp với một cửa hàng may vá quần áo cho phụ nữ. Các anh chị
của Gonxha lo lắng rằng cửa hàng sẽ không đủ cho việc mưu sinh, nhưng Gonxha
Agnes nghĩ rằng có rất nhiều cách để trở nên giàu có. Cô đã trở nên giống
tính cách của mẹ mình mỗi ngày một hơn. Khi Gonxha đã lớn, cô bắt đầu đi
học tại các trường công lập, nhưng bà Drana, với sự giúp đỡ của vị linh
mục quản xứ, đã chắc chắn rằng cô phải được truyền thụ nền giáo dục của
đức tin công giáo. Cô đã tham dự Thánh lễ Misa hằng ngày và thường có mặt
trong những cuộc hành hương hằng năm đến Đền Đức Mẹ Letnice. Gonxha thường
hay nghĩ về bố Nikôla. Ông có vẻ nghiêm khắc nhưng lại có tấm lòng rộng
rãi đối với người nghèo. Ông thường sai các con mang tiền và thức ăn cho
những người nghèo khổ. Khi còn bé, Gonxha đã từng nghĩ rằng tất cả những
thực khách ở chung quanh bàn ăn bữa tối của gia đình toàn là những người
bà con thân thuộc. Mãi tới sau này cô mới khám phá ra rằng họ là những
người chỉ cần một bữa ăn tươm tất mà thôi. Đức hạnh của bà Drana đã để
lại dấu ấn và ảnh hưởng rất lớn trên tính cách cũng như ơn gọi của cô con
gái. Gonxha nhớ lại một lần kia, cô đã chuyện gẫu với mẹ rằng: “Mẹ ạ, mọi
người phải nghĩ rằng mẹ là bà thánh đấy !” Bà Drana nhìn cô ngạc nhiên
và nói: “Điểm cốt yếu khi làm những việc tốt không phải là để cho mọi người
nghĩ hay về mình.” Mẹ cô luôn đối xử mềm dịu và ôn hoà với những người
kém may mắn nhất, chẳng hạn như khi bà nhận nuôi sáu đứa trẻ mồ côi mới
mất mẹ. Những năm sau, Gonxha nhận xét rằng gia đình cô tràn ngập niềm
vui và tình yêu thương, còn những đứa con thì thật sự hạnh phúc và thoả
mãn.
2.3 TIẾNG GỌI CỦA MẸ TERESA
Bà Drana Bojaxhiu thường nghĩ rằng con gái Gonxha Agnes
của bà sẽ không ở bên cạnh bà bao lâu. Hoặc là bà sẽ mất cô vì sức khoẻ
yếu ớt của cô, hoặc là cô sẽ hiến thân cho Thiên Chúa trong đời tu trì.
Bà Drana cũng không ngờ rằng bà đang đoán trước sự thật. Khi Gonxha Agnes
lên mười hai tuổi, cô nói với mẹ về ước muốn trở thành nữ tu của mình.
Bà Drana nói với cô hãy quên chuyện đó đi. Vô tình, bà đang cổ vũ ơn gọi
tu trì của Gonxha bằng việc nhấn mạnh rằng cô phải tham dự Thánh lễ mỗi
ngày và ở nhà thì phải đọc kinh Mân Côi. Tại giáo xứ của Gonxha Agnes,
có một vị linh mục Dòng Tên rất sôi nổi, đã giúp Gonxha nhiều trong ơn
kêu gọi. Vị linh mục này rất nhiệt thành với sứ mạng thừa sai. Ngài thường
hay giảng về chủ đề này, cho xuất bản những cuốn sách nhỏ, mở những cuộc
quyên góp cho việc thừa sai và mời các cha thừa sai đến giảng cho giáo
dân. Gonxha Agnes đã được huấn luyện thành nữ tu thừa sai. Cô thường suy
nghĩ về lời của một vị thừa sai được mời đến giảng: “Mỗi người có một con
đường riêng rất đặc biệt để theo đuổi, và mỗi người phải theo đuổi con
đường đó.” Một lần nữa, cô lại hỏi ý kiến Mẹ. Lần này, bà Drana đã động
viên con gái bằng việc chúc lành cho cô. Bà nhắc nhở con gái: “Hãy phấn
đấu để sống cho chỉ một mình Thiên Chúa và cho Chúa Giêsu Kitô, hãy dâng
tất cả cho Ngài.” Gonxha Agnes muốn chắc chắn về ơn kêu gọi của mình, cô
tìm đến cùng cha giải tội và xin ngài lời khuyên. Vị linh mục quả quyết
với cô rằng : “Con sẽ biết điều ấy bằng chính cảm giác của con, nếu những
suy nghĩ làm nữ tu, phục vụ Thiên Chúa và mọi người làm cho con hạnh phúc
thì ơn kêu gọi của con là xác thực...cho dù con đường mà con sẽ đi có nhiều
khó khăn.” Quả thực, con đường trở thành một nữ tu thừa sai thật khó khăn.
Cô phải lìa xa mẹ, anh, chị, bạn bè và tất cả những người bà con thân yêu.
Vào lúc Gonxha Agnes được mười tám tuổi, cô đã bị thuyết phục rằng Thiên
Chúa đang kêu gọi cô trở thành một nữ tu thừa sai để phục vụ cho những
người nghèo.
2.4 MẸ TERESA – NỮ TU DÒNG ĐỨC BÀ LORETTO
Vì Gonxha Agnes muốn trở thành một nữ tu thừa sai tại
Ấn Độ, nên cô đã xin vào Dòng các Soeurs Đức Bà Loretto vì họ có những
thừa sai ở đó. Trước khi đi đến đó, Gonxha phải đến ở cộng đoàn Nhà Mẹ
ở Ireland. Sau vài tháng được huấn luyện và chuẩn bị, Gonxha Agnes được
nhận vào Nhà Tập ngày 23/5/1929. Giống như tất cả các soeurs đi trước,
Gonxha phải chọn cho mình một vị thánh bổn mạng gắn với tên gọi của cô
và bỏ đi tên tục ở gia đình. Gonxha chọn Thánh Theresa Hài Đồng Giêsu.
Và bởi vì một trong số các soeurs Loretto đã có tên Theresa rồi, nên Gonxha
Agnes đã đánh vần tên cô là : “Teresa”. Dưới sự hướng dẫn của Vị Giám tập,
Teresa học cách cầu nguyện. Cô phải xưng tội mỗi tuần một lần. Một trong
những nhiệm vụ của cô là dạy những trẻ em nghèo vài giờ mỗi ngày. Bên cạnh
việc cầu nguyện và dạy học, Teresa phải học Anh ngữ. Ngày 24/3/1931, Teresa
tuyên khấn lần đầu với ba lời khấn : Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng phục.
Cô phải được huấn luyện thêm sáu năm nữa trước khi tuyên lời khấn trọn
đời. Trong khi chờ đợi, Teresa được sai đến Calcutta để học lấy bằng sư
phạm. Cô không bao giờ đoán được điều mà cô sẽ chạm trán ở đó.
Trường đại học mà soeur Teresa học thì ở ngoài khuôn
viên của tu viện. Trên đường đến trường, cô đã tận mắt mục kích những người
nghèo đang sống trong những môi trường thật cùng khốn. Cô cảm thấy bị thúc
ép phải làm một cái gì đó cho những người nghèo này ở Calcutta. Ngày Chúa
nhật, soeur Teresa thường đi thăm những khu nhà ổ chuột nơi mà mọi người
thường gọi Soeur cách âu yếm là “Má”. Tháng 5/1937, soeur Teresa đã tuyên
lời khấn vĩnh viễn. Các soeurs Loretto có truyền thống là khi các soeurs
tuyên khấn trọn đời thì họ không còn được gọi là “soeur” nữa, mà phải gọi
là “mẹ”. Vì vậy, soeur Teresa bắt đầu được gọi là “Mẹ Teresa”. Không lâu
sau khi Mẹ Teresa tuyên khấn trọn đời, Mẹ được bổ nhiệm làm bề trên Trường
Thánh Maria, một năm sau đó Mẹ làm hiệu trưởng của Trường. Bà Drana, mẹ
của Mẹ, đã viết thư chúc mừng Mẹ, bà cũng nhắc Mẹ đừng quên ý định đến
Calcutta để làm việc giữa những người nghèo. Những lời nói của người mẹ
đã làm dội lại điều mà Mẹ Teresa đã từng cảm thấy. Khi đang đi lang thang
trên đường, Mẹ Teresa đã tự hỏi tại sao Mẹ lại dạy những điều tốt đẹp cho
những trẻ em giàu có khi mà có rất nhiều trẻ em nghèo cũng đang rất cần
được Mẹ dạy dỗ. Ý tưởng đó bắt đầu thành hình trong lòng Mẹ, và tận trong
thâm tâm, Mẹ nhận ra rằng Thiên Chúa đã dự định cho Mẹ phục vụ những người
cùng khổ nhất trong những người cùng khổ.
2.5 ƠN GỌI THỨ HAI CỦA MẸ TERESA - ƠN GỌI TRONG LÒNG ƠN GỌI
Tháng 9/1946, Mẹ Teresa đang đi trên một chiếc chuyến
xe lửa về Darjeeling để dự tuần tĩnh tâm hằng năm. Mặc dù chuyến xe đông
nghẹt người và rất ồn ào, Mẹ Teresa đã nghe rõ ràng tiếng Chúa nói với
Mẹ : “Con phải rời bỏ tu viện để đến sống giữa những người nghèo hầu giúp
đỡ họ.” Mẹ Teresa đã xem tiếng gọi như một “linh cảm” này là “ơn gọi trong
lòng ơn gọi” của Mẹ. Ngày đó, trong một sự rất mới lạ mà Mẹ Teresa đã không
thể giải thích, cơn khát lòng mến và các linh hồn của Chúa Giêsu đã ngự
trị trong lòng Mẹ và ước mơ làm thoả mãn cơn khát cho Ngài đã trở thành
động lực sống cho cuộc đời của Mẹ. Trong những tháng tiếp theo, bằng những
thị kiến, Chúa Giêsu đã mặc khải cho Mẹ thấy lòng khao khát của Thánh Tâm
Ngài. Mẹ Teresa cảm thấy bị thúc ép theo lòng mơ ước của Chúa Giêsu là
thành lập một cộng đoàn tu sĩ, tên gọi là Thừa Sai Bác Ái, dành cho việc
phục vụ và chăm lo cho những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo
khổ.
Mẹ Teresa đã thổ lộ tâm tư với Đức Tổng Giám mục Calcutta.
Ngài lắng nghe câu chuyện của Mẹ một cách thinh lặng
và sau đó ngài và nói với Mẹ Teresa : “Cha muốn giúp đỡ con, nhưng con
phải biết rằng Rôma sẽ không cấp phép cho việc thành lập một hội dòng mới
nếu đã tồn tại một hội dòng tương tự như vậy.” Đức Tổng còn nói tiếp, “Con
đã nghĩ đến việc chuyển sang Hội các Nữ tử Thánh Anna chưa ? Họ cũng làm
việc cho người nghèo.” Mẹ Teresa kính cẩn đồng ý với Đức Tổng rằng các
soeurs đã làm những công việc rất tuyệt, nhưng Mẹ nói thêm : “Nhưng sau
đó thì họ lại trở về với tu viện rất tiện nghi và dễ thương của họ. Con
muốn được thực sự sống với người nghèo và chia sẻ cuộc đời với họ.” Không
nản chí trước những thách thức và cản trở, Mẹ Teresa
tiếp tục cầu nguyện và gởi đơn thỉnh cầu lên Rôma. Thiên
Chúa đã không để Mẹ thất vọng và Mẹ đã nhận được Phép sống ngoài tu viện
của Đức Thánh Cha Piô XII - mặc dù Mẹ đã không cầu xin điều này. Gần
hai năm thử thách và phân định trôi qua trước khi Mẹ
Teresa nhận được giấy phép bắt đầu Hội dòng Thừa Sai
Bác Ái của Mẹ. Ngày 17/8/1948, Mẹ Têresa đã thay bộ tu phục của Dòng Loretto
và lần đầu tiên mặc vào bộ sari màu trắng viền xanh, rồi băng qua cánh
cổng của tu viện Loretto thân thương, Mẹ bắt đầu đi vào thế giới của những
người nghèo. Trong túi xách tay của Mẹ lúc đó chỉ có vỏn vẹn năm rúp-pi,
tương đương với một đồng đô-la.
2.6 KẾT LUẬN
Gonxha Agnes đã lớn lên trong một gia đình đạo hạnh đầy
yêu thương. Mẹ đã được học để yêu mến và phục vụ Thiên Chúa ngay trong
hội thánh đầu tiên là gia đình của Mẹ. Đức tin của Mẹ đã được củng cố,
tăng cường nhờ hội thánh tại địa phương là chính giáo xứ của Mẹ. Đáp lại
lời kêu gọi của Thiên Chúa, Mẹ đã trở thành nữ tu Dòng Loretto. Mẹ nghĩ
rằng cuộc đời của Mẹ đã được chọn lựa cách rõ ràng, song lòng Mẹ vẫn luôn
rộng mở và sẵn sàng trước sự sắp đặt của Thiên Chúa. Ngay giữa sự ồn ào,
hỗn loạn, Thiên Chúa đã gọi Mẹ lần thứ hai. Như Mẹ đã liều bỏ mọi sự lần
thứ nhất, Mẹ Teresa đã không ngần ngại liều bỏ mọi sự vì Chúa một lần nữa.
Tình yêu và lòng tin tưởng của Mẹ vào Thiên Chúa luôn luôn là sự bảo đảm
cho cuộc đời Thừa Sai Bác Ái của Mẹ. Những cản trở và những khó khăn đã
theo đuổi Mẹ nhưng chúng đã không làm Mẹ giảm sút lòng tin và lòng mộ mến
Thiên Chúa. Chương kế tiếp sẽ phản ánh con đường thiêng liêng của Mẹ, điều
đã cho phép Mẹ làm những việc phi thường giữa những người cùng khổ nhất
trong những người bất hạnh.
CHƯƠNG 3
Sự Phát Triển Của Dòng Thừa Sai Bác Ái
Ba Lời Khấn Phúc Âm
và
Lời Khấn Đặc Biệt Thứ Tư
3.1 LỜI GIỚI THIỆU
Giống như đa số các hội dòng, hội dòng của Mẹ Teresa đã khởi sự với một sự bắt đầu rất khiêm tốn. Làm việc như một nữ tu cô đơn, mẹ Teresa đã bắt đầu sứ vụ với việc thăm viếng người nghèo, chăm sóc người đau yếu, lau chùi nhà cửa và giặt giũ quần áo giúp họ. Rồi công việc của Mẹ bắt đầu lan rộng. Những gợn sóng lăn tăn nhẹ nhàng từ những việc bác ái của Mẹ bắt đầu làm thành những làn sóng. Chẳng bao lâu, những làn sóng ấy đã tập hợp sức mạnh để tạo nên con sóng lớn, làm tràn ngập khắp nơi, lôi kéo rất nhiều phụ nữ quảng đại, biết quên mình để làm việc và sống theo tinh thần của Mẹ. Những người tình nguyện - còn trẻ hay đã có tuổi - bắt đầu đến và giúp đỡ các công việc của Mẹ. Trước đó khá lâu, Mẹ Teresa đã có một cộng đoàn đang lớn dần và cần được dạy dỗ và huấn luyện. Chương này sẽ cho thấy Mẹ Teresa đã trung thành theo sự hướng dẫn đã được Giáo hội ban và nói rõ trong Bộ Giáo luật. Các nữ tu của Mẹ khấn giữ ba lời khuyên Phúc âm và thêm vào lời khấn thứ tư để phục vụ cho những người nghèo nhất trong những người nghèo, điều cho thấy sứ mạng tông đồ đặc biệt của Hội dòng.
3.2 BA LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM THEO GIÁO LUẬT
Trong những buổi đầu sứ vụ của Chúa Giêsu, Ngài đã dạy và khuyến khích các môn đệ sống những lời khuyên Phúc âm. Giáo hội cũng luôn trung thành động viên con cái mình sống và thực hành những lời khuyên ấy; nhưng những lời khuyên Phúc âm chỉ bắt buộc đối với tất cả những ai sống đời sống tu sĩ và thánh hiến. Giáo lý của Giáo hội Công giáo giải thích xa hơn tại sao những lời khuyên Phúc âm lại bắt buộc đối với những ai đi theo đời sống thánh hiến: “Đức ái hoàn hảo, đối với những giáo dân được kêu gọi, đưa đến cho những ai đã tự do đáp trả lời kêu gọi để sống đời thánh hiến sự bắt buộc thực hành sự khiết tịnh trong đời sống độc thân vì lợi ích nước trời, cũng vậy sự khó nghèo và sự vâng phục.”
Luật Giáo hội đã biến những lời khuyên Phúc âm thành sự bắt buộc cho tất cả những tu sĩ phải giữ và thực hành. Luật số 654 nói rõ : “Bằng sự khấn hứa tu trì, các thành viên, bằng lời khấn công, mang lấy nhiệm vụ tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm, được hiến dâng cho Thiên Chúa qua sứ mạng của Giáo hội, và được sát nhập vào thể chế quyền lợi và nghĩa vụ đã được định rõ bởi luật.”
Luật số 654 đến số 658 của Bộ Giáo luật đã qui định lời khấn của các thành viên thuộc các dòng và tu hội trong Giáo hội Công giáo. Các lời khấn có khuynh hướng theo thời gian: khấn tạm (ngắn hạn) hay khấn trọn (lâu dài hay vĩnh viễn). Dưới thời luật Dòng Benedictine, hầu hết các thầy dòng và các nữ tu khấn vâng phục bề trên. Lời khấn vâng phục có nghĩa là đặt mình dưới quyền của Cha trưởng tu viện hay Mẹ bề trên tu viện; tính bền vững của lời khấn được hiểu là uỷ thác mình cho một tu viện riêng biệt nào đó; và sự đổi chỗ ở bao gồm cả khái niệm của tính bền vững. Trong suốt thế kỷ 12 và 13, các thầy Dòng Anh Em Hèn Mọn và các thầy Dòng Đaminh đã nhấn mạnh đến tính linh động và mềm dẻo của lời khấn bằng việc buông lơi quan điểm của “tính bền vững” và những lời khấn của họ trở thành những lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.
3.3 BA LỜI KHẤN TU SĨ : VÂNG PHỤC, KHIẾT TỊNH VÀ KHÓ NGHÈO
Những lời khấn được tuyên thệ dưới hai hình thức: lời khấn tạm thời và lời khấn vĩnh viễn. Mức độ cao nhất của lời cam kết được minh hoạ nơi những người tuyên thệ lời khấn trọn đời. Cho dù các lời khấn được tuyên thệ cách tạm thời hay vĩnh viễn, thì ba lời khấn Phúc âm vẫn giống nhau, hay nói khác đi, đó là những lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Vâng phục có nghĩa là: “Những người đã tự trói buộc vào các lời khấn tu trì sẽ sẵn lòng phục tùng quyền bính của các bề trên thuộc địa phương họ ở, chẳng hạn như: Bề trên Nhà, Cha Bề trên Tu viện, Mẹ Bề trên Tu viện, hoặc Đức Giám mục. Trong khi thực thi điều này, họ tích cực noi gương vâng phục của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Vì Chúa Giêsu đã vâng phục cho đến chết, và là cái chết trên thập giá. Vì thế, tất cả những ai đã chọn cho mình cách sống này sẽ vui vẻ đảm nhận những thánh giá dưới sự dìu dắt và điều khiển của những bề trên đã được bổ nhiệm theo luật định.
Lời khấn vâng phục là sự qui phục chung nhất cho Thiên Chúa, và là lời hứa tự nguyện của tu sĩ đối với các bề trên của mình, để được họ hướng dẫn trên đường toàn hảo theo mục đích và hiến luật trong dòng hay tu đoàn của mình.
Lời khấn khiết tịnh, trong đời sống tu trì, có nghĩa là, “từ bỏ đời sống hôn nhân và niềm hạnh phúc của đời sống này, vì phần thưởng nước trời. Một người có thể sinh hoa trái, tạo ra những công việc tốt lành theo một cách khác hơn trong đời sống hôn nhân thánh thiện. Tâm trí, thân xác và tâm hồn được thăng hoa và nâng lên khỏi những thú vui và sự sinh sản thể xác, và cởi mở với những giá trị thuộc tinh thần.”
Lời khấn khó nghèo có nghĩa là, “gỡ mình khỏi những của cải vật chất. Tất cả những của cải thuộc sở hữu cá nhân đều phải được từ bỏ và người đó phải học cho biết cách phụ thuộc từ những thức ăn hằng ngày vào vị trưởng cộng đoàn và vào cộng đoàn mà họ đã xin gia nhập. Điều này phản chiếu tấm gương khó nghèo của Chúa Giêsu trong sự phụ thuộc hoàn toàn vào Cha Ngài về tất cả những nhu cầu hằng ngày.”
Có hai mối lợi phát sinh từ lời khấn khó nghèo. Lời khấn khó nghèo mang lại cho con người sự luôn luôn sẵn sàng và tự do, và làm cho người đó xích lại gần hơn với những người nghèo nhất trong những người nghèo. Sự trung thành tuân giữ lời khấn khó nghèo tạo nên sự cởi mở cho con người. Nó đánh dấu bản chất của con người, khi làm nên một chỗ trong trái tim dành cho người nghèo và cho những nạn nhân bất hạnh; vì vậy, nó làm cho con người có khả năng đi vào tình liên đới với họ. Mẹ Teresa đã phản ánh điều này xa hơn nữa: “Sự nghèo khó tự nguyện mà các Thừa Sai Bác Ái đã sống là một lời khuyên - một sắc lệnh Giáo hội chỉ ban cho những ai tìm cách sống và bắt chước sự hoàn hảo của Chúa Giêsu. Nhưng mỗi người - Mẹ nói - đã được mời gọi sống với những cái ít hơn để có thể có nhiều mà trao ban.”
3.4 LỜI KHẤN THỨ TƯ CỦA DÒNG THỪA SAI BÁC ÁI ĐỂ PHỤC VỤ NHỮNG NGƯỜI NGHÈO NHẤT TRONG NHỮNG NGƯỜI NGHÈO
Trải qua nhiều thời đại, nhiều dòng tu và hội dòng đã tuyên khấn giữ ba lời khấn căn bản; tuy nhiên, một vài dòng đã thêm vào “lời khấn thứ tư”, cho thấy sứ mạng và quan điểm đặc biệt của dòng đó. Những tu sĩ khấn trọn trong Dòng Tên thường khấn vâng phục Đức Thánh Cha, Đức Giám mục Rôma, để đảm nhận bất cứ một sứ mạng nào đã được đặt để trong sự huấn luyện của Tu viện. Trong những thế kỷ sau này, dòng Thừa Sai Bác Ái do Mẹ Teresa sáng lập, là một ví dụ điển hình khác cho điều này. Mẹ và các nữ tu của Mẹ khấn thêm một lời khấn đặc biệt thứ tư: phục vụ cho những người nghèo nhất trong những người nghèo. “Những Thừa Sai Bác Ái chọn sống khó nghèo để giúp đỡ những người nghèo. Vì thế, lời khấn thứ tư mà mỗi thừa sai khấn hứa là hiến dâng cuộc đời trong việc cho đi hết mình và hoàn toàn cho những người nghèo nhất trong những người nghèo.”
Vì như các nữ tu Thừa Sai Bác Ái bình luận: “Đối với chúng tôi, điều này thật dễ làm, vì sự cho đi của chúng tôi là hoàn toàn tự nguyện. Chúng tôi sống trong những khu nhà ổ chuột vì chúng tôi ao ước điều đó, còn những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo thì lại bị bắt buộc sống như vậy, và chính khi phục vụ và chăm sóc họ chúng tôi phục vụ và chăm sóc chính Đức Kitô.”
Mẹ Teresa đã soạn thảo rất kỹ lưỡng về lời khấn thứ tư này, sự khó nghèo tình nguyện mà Mẹ và các nữ tu của Mẹ đã sống là một lời khuyên - một sắc lệnh để sống mà Giáo hội chỉ ban cho những ai kiếm tìm để bắt chước sự hoàn thiện nơi Chúa Giêsu. Ngay từ lúc khởi sự, bắt đầu từ Mẹ Teresa, mỗi Thừa Sai Bác Ái chỉ có một bộ sari mà những người nghèo nhất trong những người nghèo ở Calcutta vẫn mặc - bởi vì nó rất rẻ - một đôi dép, ít quần áo lót, một tượng chuộc tội gài trên áo dòng, một cỗ tràng hạt để lần khi cầu nguyện cũng như khi đi đường, một cuốn sách kinh, một cây dù cho mùa mưa, một cái sô dùng lại của thùng đựng vôi để giặt giũ, tắm rửa, và một cái giường hẹp. Thế mà các nữ tu của Mẹ còn bị cấm không được sở hữu một cây quạt nào, bất chấp sự ngột ngạt của cái nóng mùa hè ở Ấn Độ.
Trong sự nghèo khó để phục vụ chăm sóc những người nghèo, các Thừa Sai Bác Ái không chấp nhận được trả công dưới bất cứ hình thức nào. Họ không gây quỹ, mặc dù có rất nhiều người hảo tâm đề nghị với họ. Họ từ chối tất cả sự trợ giúp của chính phủ cũng như của Giáo hội cho những chương trình hoạt động của họ. Trong sự nghèo khó tình nguyện, họ sống từng ngày với tay làm hàm nhai, đi xin những thức ăn và những phương tiện để sinh sống, giống như những nghèo mà họ đang phục vụ. Mẹ Teresa thường cảnh báo các nữ tu của Mẹ: “Hãy đề phòng tiền của và những ước mơ sống thanh thản và tiện nghi, vì điều đó sẽ làm chúng con đổi lòng yêu mến Chúa.” Mẹ nói thêm: “Một người mà nắm giữ tiền bạc thì người đó sẽ mất những mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa... Một khi đã ham muốn tiền của, thì chúng ta cũng sẽ thèm khát những gì mà tiền của đem lại... Những nhu cầu của chúng ta sẽ gia tăng, vì cái này sẽ kéo theo cái khác, và kết quả là không bao giờ chúng ta cảm thấy thoả mãn.”
Những Thừa Sai Bác Ái đã sống đức khó nghèo trong sự tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa, chính điều này đã làm cho họ trở nên gắn bó thân mật với Ngài hơn. Như Thánh Phanxicô, họ sống và làm việc nhờ vào lòng quảng đại của người khác. Họ sống điều họ dạy, là họ không sở hữu bất cứ thứ gì nhiều hơn những người nghèo mà họ phục vụ.
Mẹ Teresa đã dạy và nhắc nhở các nữ tu của Mẹ phải trở nên nhân chứng của lòng sám hối. Họ thường nhận lấy tội của người khác và dâng chúng lên như cách thế cùng chịu đau khổ với Đức Kitô. Họ thường chịu đựng những thử thách và đau khổ thay cho người khác. Họ luôn sẵn lòng chấp nhận đau khổ để người khác khỏi phải khổ đau. Mẹ Teresa thường nhắc đi nhắc lại rằng họ phải sẵn sàng lấy chỗ của những người đau khổ, nhận lấy tội lỗi họ và đền thay cho họ.
Mẹ còn phân tích rất kỹ lưỡng cho từng nữ tu ý nghĩa của nhu cầu chịu đau khổ với và cho người nghèo, như Đức Kitô đã sẵn lòng chịu đau khổ cho mỗi người chúng ta: “Không có đau khổ, những việc làm của chúng ta chỉ là những công việc bác ái xã hội, rất tốt và rất ích lợi, nhưng nó không phải là công việc của Chúa Giêsu Kitô, và không tham dự vào công cuộc cứu chuộc. Chúa Giêsu đã muốn giúp đỡ chúng ta bằng cách chia sẻ kiếp người của chúng ta, sự cô đơn của chúng ta, sự hấp hối và sự chết của chúng ta. Chỉ bằng cách trở nên một người như chúng ta mà Ngài đã cứu chuộc chúng ta. Chúng ta cũng được phép làm như vậy; tất cả những lẻ loi cô độc của người nghèo - không chỉ là sự nghèo khổ vật chất mà còn cả sự thiếu thốn về tinh thần - đều phải được cứu độ; và chúng ta phải chia sẻ điều đó, vì chỉ bằng cách trở nên một người với người nghèo mà chúng ta mới có thể cứu được họ, nghĩa là mang Thiên Chúa đến trong cuộc đời của họ và đưa họ về với Thiên Chúa.”
3.5 KẾT LUẬN
Dòng Thừa Sai Bác Ái đã bắt đầu khởi sự với một nữ tu mỏng manh, yếu ớt nhưng rất can đảm, đó là Mẹ Teresa. Tình yêu mà Mẹ cảm thấy đối với những người cùng khổ nhất đã được biểu lộ cách cụ thể qua những việc làm đầy yêu thương của Mẹ. Gương sáng bác ái của Mẹ đã thu hút rất nhiều người bắt chước cách sống của Mẹ. Với sự gia tăng nhanh chóng của các thành viên, Hội dòng của Mẹ cần có một cơ cấu tổ chức chặt chẽ và một đường lối chỉ đạo bền vững, hội dòng đã được chuẩn bị bằng những lời khấn hứa theo tinh thần Phúc âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Trong trường hợp Hội dòng của Mẹ Teresa, một lời khấn thứ tư đã được thêm vào, đó là lời khấn hứa phục vụ những người cùng khổ nhất. Lời khấn thứ tư này còn được phép bao lâu nó phản ánh quan niệm và đường lối của Hội dòng. Khi người ta chất vấn về lời khấn thứ tư và công việc bác ái của Mẹ giữa những người nghèo, và phàn nàn rằng Mẹ đã làm hư những người nghèo, Mẹ Teresa đã trả lời đơn giản rằng: “Không đến nỗi tệ quá khi có một hội dòng làm hư người nghèo khi mà những hội dòng khác làm hư người giàu. Tôi thật sự rất cảm kích khi đọc thấy điều này: trước khi giải thích lời Thiên Chúa, trước khi giới thiệu cho dân chúng về Tám Mối Phúc Thật, Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương xót đám đông vất vưởng và đã cho họ ăn. Chỉ khi đã cho họ ăn xong, Ngài mới bắt đầu dạy dỗ họ.”
CHƯƠNG 4
Linh Đạo
Của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái
4.1 LỜI GIỚI THIỆU
Trong công việc làm cho những người nghèo nhất trong những người nghèo, Mẹ Teresa thường tiếp xúc rất nhiều người muốn giúp đỡ cũng như những người cần được giúp đỡ. Để có thể gặp gỡ hoặc giữ các mối liên hệ, nhiều người thường in cho mình những tấm danh thiếp và thường mang chúng theo người để có thể sử dụng mỗi khi cần. Một lần kia, một thương nhân hỏi xin Mẹ Teresa tấm danh thiếp. Nhưng Mẹ chưa bao giờ làm một tấm danh thiếp nào, vì thế Mẹ liền nghĩ ra và cho in những tấm danh thiếp để cho những người mà Mẹ cần liên hệ. Bình thường, những tấm danh thiếp thường có những thông tin như: tên, chức vụ, địa chỉ, số điện thoại, và địa chỉ email. Tấm danh thiếp của Mẹ Teresa chỉ có duy nhất những hàng chữ rất hiếm có như sau :
Kết quả của thinh lặng là cầu nguyện
Kết quả của cầu nguyện là lòng tin.
Kết quả của lòng tin là tình yêu.
Kết quả của tình yêu là phục vụ.
Kết quả của phục vụ là bình an.
Mẹ Teresa
Năm hàng chữ trên tấm danh thiếp của Mẹ Teresa đã nói lên rất rõ mục đích và sứ mạng của Mẹ. Trong cái nhìn của những thương nhân, thì không phải bất cứ thứ gì cũng có thể cho in lên tấm danh thiếp. Nhưng nơi Mẹ Teresa thì khác, tấm danh thiếp của Mẹ cung cấp đầy đủ, hoàn chỉnh những thông tin và cách thế để đạt đến Thiên Chúa, mà không phải là đến với Mẹ. Mẹ hy vọng rằng, qua năm bước này mà Mẹ có thể làm vơi cơn khát của Chúa Kitô trong bản thân những con người cùng khổ nhất trong những người cùng khổ.
4.2 KẾT QUẢ CỦA THINH LẶNG LÀ CẦU NGUYỆN
Mẹ Teresa không có nhiều bí mật; nhưng bất cứ điều bí mật nào Mẹ có thì Mẹ luôn sẵn sàng và tự do chia sẻ cho người khác. “Mẹ sẽ kể cho các con nghe về những bí mật của Mẹ” - Mẹ nói - “Bí mật của Mẹ là một bí mật rất đơn giản: Mẹ cầu nguyện.” Cầu nguyện luôn luôn là một dấu chứng bảo đảm đối với tất cả các thánh. Mẹ Teresa thường thừa nhận thành thật và tha thiết rằng: “Tôi không nghĩ rằng còn có một ai đó đang cần sự trợ giúp và những ân sủng của Thiên Chúa hơn tôi.” Phản ảnh trên con người mảnh dẻ và bé nhỏ của mình, Mẹ thường tự hào khoe rằng Mẹ không thể nào dựa vào sức riêng của Mẹ, dù chỉ là một chút. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa đã sử dụng Mẹ. Mẹ rất tự hào nói rằng Mẹ lệ thuộc vào Thiên Chúa hai mươi bốn tiếng mỗi ngày. Mẹ tiếp tục nói rằng, nếu một ngày có hơn hai mươi bốn giờ thì Mẹ cũng sẽ cần sự trợ giúp của Ngài cho những giờ hơn đó. Mẹ đã khiêm nhường thú nhận rằng: “Không cầu nguyện, Mẹ không thể làm việc được, dù chỉ trong nửa tiếng đồng hồ.” Mẹ nói: “Mẹ đã nhận được sức mạnh từ Thiên Chúa qua việc cầu nguyện.” Mẹ tha thiết yêu cầu các nữ tu cũng như bất cứ ai muốn, hãy bám vào Thiên Chúa qua việc cầu nguyện. Như máu đem lại sự sống cho thân xác thế nào thì cầu nguyện cũng mang lại sự sống cho linh hồn như vậy. Cầu nguyện nuôi dưỡng linh hồn và đưa linh hồn đến gần Chúa hơn. Cũng chính trong cầu nguyện mà con tim chúng ta được tẩy rửa và trở nên tinh tuyền.
Sống trong thế giới đang mỗi ngày một gia tăng những tiếng ồn, Mẹ Teresa thường bắt đầu giờ cầu nguyện của mình trong sự thinh lặng khi Mẹ lắng đọng tâm hồn và tự đặt mình trước Chúa, vì Thiên Chúa luôn hiện diện với chúng ta. Mẹ tin rằng chính trong sự thinh lặng của tâm hồn mà Thiên Chúa lên tiếng nói. Trong khi cầu nguyện, Mẹ tin rằng điều Thiên Chúa nói với chúng ta mới là điều quan trọng, chứ không phải điều chúng ta nói với Ngài. Vì thế chúng ta cần lắng nghe Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể lắng nghe khi chúng ta đã hoàn toàn thinh lặng. Mẹ còn nói rất kỹ lưỡng rằng: “Nếu các con đối diện với Thiên Chúa trong cầu nguyện và thinh lặng, Thiên Chúa sẽ nói với chúng con. Và chúng con sẽ biết rằng chúng con chẳng là gì cả. Chỉ khi chúng con nhận biết sự hư không và trống rỗng của mình, Thiên Chúa mới đong đầy trái tim các con bằng chính Ngài.”
Trong thinh lặng, một nguồn hiệp nhất và năng lượng mới sẽ được hình thành. Và vì tâm hồn chúng ta thường đầy dẫy những sự thế gian, chúng ta không thể nghe được tiếng nói của Thiên Chúa. Nhưng một khi chúng ta học được cách lắng đọng bản thân, thì tâm hồn chúng ta sẽ ngập tràn Thiên Chúa. Để đạt được sự thinh lặng bên trong thật sự, Mẹ Teresa đề nghị chúng ta hãy thực hành những luyện tập thiêng liêng sau: thinh lặng của mắt bằng cách tìm kiếm vẻ đẹp và lòng nhân ái trong các tạo vật của Thiên Chúa; thinh lặng của đôi tai bằng cách chỉ lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa và tiếng khóc than ai oán của những người khốn cùng và bất hạnh; thinh lặng của lưỡi bằng cách ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa đã tỏ cho chúng ta biết và nếm hưởng sự bình an, niềm hy vọng và lòng thương yêu; thinh lặng trong trí bằng cách suy gẫm sự thật và những mặc khải về Thiên Chúa đã được Kinh Thánh bày tỏ; thinh lặng trong trái tim bằng cách yêu mến Thiên Chúa như Ngài đã yêu thương chúng ta với tất cả trái tim, tâm lòng, linh hồn và sức lực.
4.3 KẾT QUẢ CỦA CẦU NGUYỆN LÀ ĐỨC TIN
Qua đời sống cầu nguyện sốt mến của Mẹ, Mẹ Teresa đã nhìn thấy rõ ràng Thiên Chúa trong các tạo vật của Ngài như trong thiên nhiên và đặc biệt là trong con người. Mẹ thú nhận rằng: “Không có một giây phút nào Mẹ nghi ngờ về sự hiện diện của Thiên Chúa, nhưng Mẹ biết có những người đã nghi ngờ.” Mẹ đề nghị chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu sử dụng chúng ta mà không cần hỏi ý kiến chúng ta. Chúng ta thuộc về Chúa Giêsu, vì thế, chúng ta hãy để cho Ngài lấy những gì Ngài muốn. Lòng tin nồng cháy này đã cho phép Mẹ Teresa sống một cách hết sức vô tư, và điều đó phản ánh sứ mạng của Mẹ. Mục đích duy nhất của Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ là giúp đỡ những người nghèo nhất trong những người nghèo - những người mà Mẹ luôn thấy Đức Kitô đang cải trang trong họ. Mẹ không chấp nhận được trả công cho bất cứ công việc nào của Mẹ, dù chỉ là một rúp-pi. Mọi sự Mẹ làm là cho Chúa Giêsu. Mẹ tin rằng, nếu Chúa Giêsu muốn chúng ta làm điều gì đó cho Ngài, Ngài sẽ ban phương tiện cho chúng ta thi hành. Nếu Ngài không cung cấp phương tiện, điều đó có nghĩa là Ngài không muốn chúng ta làm việc đó. Thật là một lòng tin đơn sơ tuyệt vời như trẻ thơ.
Mẹ Teresa còn nói rằng, Thiên Chúa luôn ở cùng Hội thánh. Hội thánh ban hành những sứ mạng trong con người linh mục và các bí tích nuôi dưỡng, đem lại sức mạnh cho Hội thánh chu toàn sứ mạng. Mẹ khẳng định rằng, Hội thánh là gia đình rộng lớn của chúng ta. Trong gia đình Thừa Sai Bác Ái, Đức Kitô là gia trưởng, và Ngài là người quyết định tất cả. Giáo hội của Đức Kitô chỉ là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy cho đến muôn đời. Bằng việc trung thành với Thiên Chúa và Giáo hội, và việc sống đời sống Kitô hữu, mà chúng ta lớn dần lên trong đức tin. Có rất nhiều vị thánh đã đi trước chúng ta và gương sáng của các Ngài đã được kể lại cho chúng ta để chúng ta noi gương bắt chước. Nhưng Mẹ Teresa thì luôn thích những vị thánh có tâm hồn đơn sơ, chẳng hạn Thánh Theresa đệ Lisieux - bông hoa nhỏ của Chúa Giêsu. Mẹ đã chọn Thánh nữ làm thánh bổn mạng vì Thánh nữ đã biết biến đổi những công việc bình thường bằng một tình yêu phi thường. Một cách khác để lớn lên trong đức tin là việc học hỏi Kinh Thánh. Vì như Thánh Jêrôme đã nói : “Không biết gì về Kinh Thánh là không biết gì về Thiên Chúa.”
4.4 KẾT QUẢ CỦA ĐỨC TIN LÀ TÌNH YÊU
Xuyên qua cảm hứng mà Mẹ Teresa đã nhận được trên chuyến xe lửa, Chúa Giêsu đã ban cho Mẹ một sứ mạng bác ái; và với lòng bác ái này, Mẹ và Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ sẽ làm cho tình yêu thương của Chúa Giêsu được mọi người biết đến. Bằng cách trở nên nghèo khó, các nữ tu sẽ làm cho người nghèo trở nên giàu có cùng với lời hứa sự sống đời đời.
Mẹ Teresa có một cách làm đơn giản hoá những sự việc phức tạp nhất. Mẹ nói: “Mọi sự đều tuỳ thuộc ở chỗ chúng ta yêu thương nhau thế nào.” Tình yêu hệ tại ở lòng nhiệt tâm thiêng liêng và thánh thiện. Tình yêu là điều làm cho cuộc đời trở nên đáng sống. Mẹ đã từng nhắc nhở các nữ tu của Mẹ: “Vào giờ chết của chúng ta, chúng ta sẽ không bị xét xử xem chúng ta đã lái xe hơi loại nào, chúng ta đã làm được bao nhiêu tiền, hoặc chúng ta đã học được bao nhiêu bằng cấp. Trong giờ chết của chúng ta, chúng ta sẽ bị xét xử trên đức ái - trên cách thức chúng ta biểu lộ lòng thương yêu của chúng ta trong việc làm.”
Mẹ Teresa hay kể những câu chuyện để nhấn mạnh điều Mẹ muốn nói. Cộng đoàn thừa sai đầu tiên của Hội dòng Mẹ ở ngoài nước Ấn Độ là ở tại Venezula. Thực ra, Mẹ đã không hỏi xin điều này, nhưng mảnh đất đó là do một gia đình giàu có ở Cocorote (Nam Mỹ) cho Mẹ để Mẹ xây một viện mồ côi cho trẻ em. Vào một dịp Mẹ viếng thăm Nam Mỹ, Mẹ đã đến thăm và cám ơn gia đình này. Trong suốt cuộc viếng thăm, Mẹ đã để ý thấy đứa con trai đầu lòng của họ bị bại liệt rất nặng. Và Mẹ đã hỏi xem tên của em là gì. Mẹ đứa trẻ trả lời rằng tên của em là “Professor of love” nghĩa là “Thầy dạy của tình thương”. Và bà đã giải thích rằng đứa con tật nguyền này đã không ngừng dạy cho họ cách biểu lộ tình yêu thương bằng hành động.
Trong công việc giúp đỡ người nghèo, Mẹ Teresa đã chứng kiến và đã từng nếm trải những khốn khổ trong những hoàn cảnh bi đát nhất. Tuy nhiên, điều đó vẫn không ngăn cản Mẹ nhìn thấy một hình thức nghèo nàn khác của các nước phương Tây. Khi Mẹ nhìn về các nước phương Tây, Mẹ không thấy những cao ốc chọc trời hay những chiếc xe hơi sang trọng; Mẹ cũng không thấy sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật hay là sự giàu có thịnh vượng; thay vào đó, Mẹ đã thấy một cái gì đó mà con mắt bình thường không thấy được. Mẹ đã nhìn thấy sự nghèo nàn của đời sống tinh thần đang lan tràn tại các nước này. Chúng ta thường bị ngạt thở vì những mơ ước được sở hữu của cải, vì lòng yêu thích tiền bạc và những gì mà tiền bạc mang lại. Mẹ Teresa kết luận rằng căn bệnh nguy hiểm nhất của các nước phương Tây ngày nay không phải là bệnh phong cùi hay bệnh HIV/AIDS, nhưng là căn bệnh cảm thấy bị bỏ rơi, không được ai yêu thương và chăm sóc. Những bệnh về thể lý thì có thể được chữa trị bằng thuốc và đơn toa của bác sĩ, nhưng phương pháp và toa thuốc duy nhất có thể chữa trị căn bệnh cô đơn, thất vọng và tuyệt vọng chính là tình yêu thương. Thực vậy, hiện nay có nhiều người nghèo trên thế giới đang chết vì đói khát một mẩu bánh mì, một ly nước lạnh; nhưng cũng có rất nhiều người phương Tây đang chết vì thiếu vắng tình yêu thương. Vì thế, sự nghèo khổ của các nước phương Tây là một sự nghèo khổ khác biệt. Đó là sự nghèo đói về tinh thần - một cơn đói khát tình yêu và đói khát Thiên Chúa dữ dội.
Những nhu cầu thuộc về tinh thần chỉ có thể được gặp gỡ bởi những con người cầu nguyện và có một đời sống nội tâm sâu xa. Mẹ Teresa vẫn biết rằng có quá nhiều đau khổ trong thế giới này. Những đau khổ về vật chất là những đau khổ vì thiếu thức ăn, chỗ ở, và bệnh tật. Nhưng Mẹ vẫn tin rằng đau khổ lớn nhất của con người là sự cô đơn, là cảm giác không được yêu thương, hoặc đơn giản chỉ là không có ai đồng hành trong cuộc sống. Mẹ Teresa đã đi đến kết luận rằng: không được ai biết đến và không được ai yêu thương là căn bệnh khủng khiếp nhất mà bất cứ ai cũng có thể trải qua. Nhu cầu này cần được gặp gỡ bởi những con người có đời sống nội tâm sâu xa. Trước khi rời nhà để đi làm việc tông đồ, những Thừa Sai Bác Ái thường bắt đầu một ngày mới với lời cầu nguyện trong Sách nguyện của cộng đoàn như sau:
“ Lạy Chúa giàu lòng thương xót, con quỳ lạy trước mặt Chúa, vì tất cả những gì là quí báu đều thuộc về Chúa. Con nài xin Chúa cho đôi tay con được nhanh nhẹn, tâm trí con minh mẫn, và lòng con tràn đầy tình yêu thương và khiêm tốn. Xin hãy ban cho con tấm lòng đơn sơ trong mục đích, và sức mạnh để chia sẻ và nâng đỡ gánh nặng cho những người cùng khổ xung quanh con; và cảm nhận hồng ân Chúa đã dành cho con. Xin hãy cất khỏi lòng con tất cả những bội bạc và gian dối của trần gian, để với đức tin trong trắng của trẻ nhỏ, con sẽ luôn trông cậy nơi Chúa.”
4.5 KẾT QUẢ CỦA TÌNH YÊU LÀ PHỤC VỤ
Đối với những người thường hiểu lầm công việc của Mẹ chỉ là những công việc phục vụ xã hội, Mẹ Teresa thường dành thời gian để phân tích rõ ràng công việc của Mẹ và công việc của những nhân viên xã hội. Mẹ lặp đi lặp lại rằng: “Chúng tôi không phải là những nhân viên xã hội. Trong mắt của một số người, có thể chúng tôi đang làm những công việc xã hội, nhưng thực ra chúng tôi làm điều đó cho Chúa Giêsu.” Đối với Mẹ Teresa, việc phục vụ người nghèo là kết quả của tình yêu được diễn tả qua hành động, và tình yêu trong việc làm này chỉ có thể thực hiện được qua cầu nguyện. Mẹ đã kể lại dịp Chúa đã mời gọi Mẹ làm một Thừa Sai Bác Ái như sau : “Mẹ đã không thể là một Thừa Sai Bác Ái nếu lúc đó Mẹ đi băng qua khi nhìn thấy và ngửi thấy mùi hôi thối của một người phụ nữ đã bị chuột gặm trên mặt và hai chân. Nhưng Mẹ đã quay lại, nâng bà ấy dậy và đưa đến bệnh viện. Nếu Mẹ đã không làm việc đó, Hội dòng có lẽ đã không còn tồn tại. Những cảm giác ghê tởm là điều thuộc con người tự nhiên, nhưng nếu Mẹ nhìn thấy khuôn mặt của Chúa Giêsu đang cải trang trong con người cùng khốn nhất, lúc đó Mẹ sẽ trở nên thánh thiện.”
Để thấy rõ hơn nữa kết quả của tình yêu được diễn tả trong việc phục vụ, chúng ta cũng nên biết đến hương vị ngọt ngào những công việc của các Thừa Sai Bác Ái. Trong khuôn khổ công tác tông đồ, các nữ tu thường dạy các lớp giáo lý ngày Chúa Nhật, hướng dẫn những nhóm tìm hiểu Kinh thánh, thăm viếng các bệnh viện, chăm sóc các bệnh nhân tại tư gia và trong nhà tù. Trong việc chăm sóc về phương diện y khoa, các nữ tu lo tìm các bệnh viện cho các bệnh nhân HIV/AIDS, tìm nhà trú ngụ cho các trẻ em bị bỏ rơi, cho những người đau yếu và hấp hối. Trong công tác giáo dục, các nữ tu thường dạy các lớp tiểu học tại các khu nhà ổ chuột. Họ cùng dạy cho các thanh thiếu nữ các nghề như: may, bán hàng, và các nghề thủ công khác. Tất cả những việc đó được làm để hưởng ứng lời xét xử muôn dân của Chúa Kitô :
“ Khi Con Người đến trong vinh quang của Ngài cùng với tất cả các thiên thần, Ngài sẽ ngự trên ngai vinh quang, và các dân tộc sẽ tập hợp lại trước nhan Ngài. Và Ngài sẽ chia tách người này với người kia, như người mục tử tách chiên ra khỏi dê. Ông sẽ đặt chiên ở bên phải mình, còn dê ở bên trái. Sau đó, Vua sẽ nói với những người ở bên phải rằng, ‘Hãy đến, hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Nước Trời đã đuợc chuẩn bị cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa. Vì khi Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau ốm, các ngươi đã săn sóc; Ta bị ở tù, các ngươi đã đến viếng thăm Ta.’ Lúc đó, những người bên phải sẽ nói với Ngài rằng: ‘Lạy Chúa, có khi nào chúng con thấy Chúa là khách lạ mà tiếp đón, trần truồng mà cho áo mặc ? Có khi nào chúng con thấy Chúa ốm đau hay ở tù mà thăm viếng Chúa đâu ?’ Và Đức Vua sẽ trả lời họ rằng: ‘Quả thật, Ta nói với các ngươi, bất cứ điều gì các ngươi làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất là anh em của Ta đây, là các ngươi đã làm điều ấy cho chính Ta.’ ”
Mẹ Teresa đã nhắc nhở các nữ tu của Mẹ rằng khi họ tận tình giúp đỡ Chúa Kitô trong người nghèo, thì không phải họ đang biểu diễn một dịch vụ xã hội. Thay vào, họ đang làm điều đó như những nhà chiêm niệm trong thế giới. Không phải mọi người đều đồng ý với cách thức giúp đỡ người nghèo của Mẹ và các nữ tu. Khi một ai đó nói với Mẹ rằng điều mà các nữ tu của Mẹ đang làm thì thật là không đáng, rằng họ đã giới hạn bản thân vào những việc quá tầm thường, Mẹ Teresa thường trả lời đơn giản rằng, nếu các nữ tu của Mẹ chỉ giúp đỡ cho một người thôi thì cũng đã đủ lý do biện minh cho công việc của họ rồi. Một trong những câu trả lời ưa thích và nổi tiếng của Mẹ, thường được các thừa sai ngày nay trích dẫn đó là: “Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta phải thành công. Ngài đòi hỏi chúng ta trung thành. Khi đối diện với Thiên Chúa, kết quả không quan trọng. Lòng trung thành mới là điều quan trọng.”
4.6 KẾT QUẢ CỦA PHỤC VỤ LÀ BÌNH AN
Bình an là điều mà Chúa Giêsu ban tặng các tông đồ trong ngày Lễ Phục Sinh đầu tiên. Chúng ta cũng là những người đã nhận sự bình an này bởi Chúa Thánh Thần đã ban cho chúng ta trong ngày lãnh Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức. Sự bình an của Chúa Giêsu thì không giống như bình an của thế giới này. Bình an của Đức Kitô không phải là không có chiến tranh và những cuộc xung đột, nhưng là sự bình an chỉ có thể được ban tặng bởi Đức Kitô. Ngày nay, những nhà cầm quyền trên thế giới đã phải tốn hàng trăm tỷ đô-la mỗi năm để có được và duy trì một nền hoà bình nhất thời; tuy nhiên điều đó cũng trở thành vô hiệu, vì chiến tranh và xung đột vẫn lan tràn khắp nơi trên thế giới. Mẹ Teresa không theo đuổi thứ bình an của thế giới này, nhưng là sự bình an mà chính Đức Kitô đã tặng ban cho loài người. Mẹ tin rằng những công việc được thực hiện vì tình yêu thực sự là những công việc của hoà bình. Khi tình yêu được chia sẻ cho người khác, ở đó có ý thức hoà bình giữa con người. Ở đâu có bình an, ở đó có Thiên Chúa. Bình an là cách thức mà Thiên Chúa chạm đến cuộc sống của chúng ta và bày tỏ cho chúng ta tình yêu thương của Ngài bằng cách rót vào tâm hồn chúng ta sự bình an và niềm vui.
Theo Mẹ Teresa, bình an là một quyền lợi tự nhiên được sinh ra cùng với hạnh phúc. Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta cho mục đích hạnh phúc thực sự này. Hạnh phúc và bình an chỉ có thể tìm thấy trong Thiên Chúa. Về đề tài hoà bình này, Mẹ Teresa đã mượn một cách khéo léo lời kinh rất nổi tiếng của Thánh Phanxicô đệ Assisi - Xin hãy làm cho con nên Khí cụ bình an của Chúa:
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem tin cậy vào nơi nghi nan, đem ánh sáng vào chốn tối tăm, đem niềm vui vào nơi u sầu. Ôi, lạy Thầy dạy con, xin hãy dạy con tìm an ủi người khác hơn được người khác ủi an; biết tìm hiểu biết người hơn được người khác hiểu biết; biết tìm yêu mến người hơn được người khác mến yêu. Vì chính khi con hiến thân là khi con được nhận lãnh; chính lúc con tha thứ cho người là khi con được Chúa thứ tha; chính lúc con chết đi là khi con được tái sinh trong cuộc sống đời đời.
Mẹ Teresa thường phản ánh rằng các công việc bác ái của Mẹ chỉ đơn thuần là những công việc của hoà bình. Mẹ tiếp tục thảo luận rất tỉ mỉ lời nói của Chúa vào ngày phán xét các dân nước trong Tin Mừng Thánh Matthêu ; “Ta đói” ở đây, không phải Chúa Giêsu đói cơm bánh nhưng la đói sự an bình đến từ tâm hồn trong sạch. “Ta khát” Chúa Giêsu không chỉ cần nước để làm giảm vơi cơn khát thể chất, nhưng Ngài khát sự bình an làm thoả mãn cơn khát tình yêu nồng cháy của Ngài. “Ta trần truồng” Chúa Giêsu không chỉ nói về nhu cầu quần áo mà còn nói về nhân phẩm cao quý của con người. “Ta không có nhà cửa” Chúa Giêsu không chỉ cậy nhờ đến những căn nhà xây dựng bằng gạch và đá nhưng là những tâm hồn biết quan tâm và chăm sóc người khác bằng những cử chỉ yêu thương.
Mẹ Teresa đã kết luận với sứ điệp hoà bình sau cùng, đó là chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương từng người chúng ta. Chúa Giêsu đã đến rao giảng cho chúng ta tin mừng rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, rằng Ngài muốn chúng ta cũng hãy mến thương nhau. Khi còn tại thế, Ngài đã đi khắp nơi chữa lành và nuôi ăn những kẻ bệnh hoạn, đau khổ và đói khát. Chúng ta cũng phải noi gương của Ngài để chăm sóc và giúp đỡ những người nghèo và những người kém may mắn ở ngay giữa chúng ta. Như thế thì thật tràn đầy hy vọng khi đến giờ chúng ta từ biệt thế gian và đi về nhà Chúa, thật là tuyệt khi được nghe Chúa nói với chúng ta: “Hãy đến và lãnh lấy Nước Thiên Đàng đã được chuẩn bị cho con, vì khi Ta đói, con đã cho Ta ăn; Ta trần truồng, con đã cho Ta áo mặc; Ta đau yếu thì con đã viếng thăm Ta. Bất cứ điều gì con đã làm cho một trong những kẻ bé mọn là anh em của Ta đây, là con đã làm cho chính Ta.”
4.7 MẸ TERESA YÊU MẾN THÁNH LỄ VÀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ
Được lớn lên trong một gia đình công giáo đạo đức, Mẹ Teresa đã được dạy dỗ rất chu đáo về giáo lý của Hội thánh, về lòng yêu mến Thánh lễ và lòng sùng mộ Bí tích Thánh Thể. Đối với Mẹ Teresa lòng tin yêu và trung thành với Chúa Kitô chỉ có thể là qua Giáo hội, qua những lời dạy bảo và sự phân phát ân sủng từ nơi bàn thờ của Bí tích Thánh Thể. Cả ba Phúc âm Nhất Lãm đã thuật lại biến cố của Bữa Ăn Cuối Cùng. Chúa Giêsu đã chọn vào dịp Lễ Vượt Qua để trao ban cho các môn đệ Mình và Máu cực thánh của Ngài.
“Khi giờ đã đến, Ngài vào bàn ăn, và các tông đồ cùng ngồi với Ngài. Ngài nói với họ: ‘Thầy những khát khao mong mỏi ăn Lễ Vượt Qua này với các con trước khi Thầy chịu khổ hình. Thầy bảo thật các con, Thầy sẽ không còn ăn Lễ này nữa cho đến khi hoàn tất nước Thiên Chúa.’ Sau đó, Ngài cầm lấy chén, dâng lời chúc tụng và tạ ơn, rồi nói: ‘Các con hãy cầm lấy mà chia nhau; Thầy bảo thật các con, từ nay, Thầy sẽ không còn uống sản phẩm của cây nho này nữa cho đến khi triều đại của Thiên Chúa ngự đến.’ Sau đó, Ngài cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra rồi trao cho các môn đệ mà nói: ‘Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con. Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Thầy.’ Cùng một thể thức ấy, sau khi ăn, Ngài cầm lấy chén, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ mà nói: ‘Này là chén máu Thầy, máu của giao ước mới, sẽ đổ ra vì anh em.”’
Vì thế, mỗi ngày Mẹ và các nữ tu của Mẹ đều gặp gỡ Chúa Giêsu; trước hết trong Thánh Lễ - nơi mà họ kín múc chất bổ dưỡng và sức mạnh cho ngày sống và cho những công việc của họ; sau đó, họ gặp gỡ Chúa Giêsu trong những người đau khổ và cùng khốn mà họ đang chăm sóc. Đối với Mẹ Teresa và các nữ tu, một ngày sống của họ thường bắt đầu với lời kinh và việc nguyện gẫm lúc 4:30 ban sáng, sau đó là Thánh lễ. Mẹ Teresa thường cho rằng nguồn sức mạnh giúp các thừa sai làm những công việc của mình, đó là sự cống hiến bản thân cho Đức Kitô với một trái tim thanh khiết, không chia sẻ, qua sự tự nguyện hoàn hảo tuân giữ đức khó nghèo, trong đức vâng phục quên mình, và trong việc phục vụ vô vị lợi cho những người nghèo nhất trong những người nghèo, và yêu mến Chúa Thánh Thể. Mẹ thường tiên đoán một cách tự tin rằng: “Tôi xác tín rằng bao lâu các nữ tu còn trung thành giữ sự khó nghèo cách triệt để và giữ lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, cũng như trung thành trong việc phục vụ người nghèo khó, thì bấy lâu Hội dòng sẽ không gặp bất cứ nguy hiểm nào.”
Theo Mẹ Teresa, đạo Công giáo vẫn luôn luôn là một tôn giáo của Thiên Chúa ẩn mình nơi con người. Dung mạo của Ngài là dung mạo của những tha nhân sống xung quanh chúng ta. Ngài đã mặc khải chính Ngài nơi con người và trong những sự việc hết sức khiêm nhường, như: một ly nước cho người đang khát, một miếng bánh cho người đang đói. Những người theo đạo Công giáo tin rằng bằng Mầu nhiệm Nhập Thể, Chúa Kitô đã mãi mãi kết thân chính Ngài với từng con người đã từng hiện hữu, đang hiện hữu và sẽ hiện hữu trong thế giới này. Mẹ tiếp tục phản ánh trên chương sách rất cởi mở và rất đẹp của cuốn Tin Mừng thứ Tư: “Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và đã cư ngụ giữa chúng ta, tràn đầy ân sủng và sự thật.”(Ga 1,14) Câu chuyện Kitô giáo là một lời giới thiệu đơn giản nhưng bất tận của quá trình Ngôi Lời trở thành nhục thể và đang sống giữa chúng ta cách sống động và đáng yêu.
Để đưa điều này vào thời hạn thực tiễn, Chúa Giêsu đã hiện diện trong từng con người mà chúng ta gặp gỡ mỗi ngày, bất luận già hay trẻ, giàu hay nghèo. Tuy nhiên, nơi những người nghèo, sự hiện diện của Chúa Giêsu đặc biệt hơn. Mình Thánh là Bí tích mặc khải cho chúng ta về sự hiện diện rõ ràng minh bạch nhất của Đức Kitô. Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta chính cuộc sống của Ngài qua hiến lễ hy sinh cao cả nhất. Chính ở nơi đây, Ngài tỏ cho chúng ta thấy lòng yêu thương vô bờ bến của Ngài. Nơi người nghèo, Chúa Giêsu vẫn chờ đợi chúng ta trao ban cuộc sống của chúng ta cho Ngài, và tỏ cho Ngài xem chúng ta đã yêu thương Ngài như thế nào. Mẹ Teresa giải thích rằng có một sự liên kết phức tạp giữa sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể và sự hiện diện của Ngài nơi bản thân những người nghèo : “Khi rước lễ, chúng ta đón nhận Chúa Kitô trong hình Bánh; khi làm việc, chúng ta lại tìm thấy Ngài trong thân xác gồm cả thịt và máu. Nhưng chỉ có một và cũng một Đức Kitô nơi bàn thờ cung kính và nơi bản thân của những người nghèo trong các khu nhà ổ chuột.”
Trải qua nhiều thế kỷ, đã có vô số những vị thánh đã đi trước chúng ta và đã thuật lại cho chúng ta những phép lạ về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể, cũng như mầu nhiệm về sự hiện diện của Ngài nơi người nghèo. Tuy nhiên, không phải vị thánh nào cũng được diễm phúc nhận biết cả hai mầu nhiệm này. Nhưng Mẹ Teresa, với cách thức đơn giản và khiêm tốn, Mẹ đã được nhận biết cả hai điều này: “Đối với Mẹ, sự thất bại của chúng ta khi không nhìn thấy Đức Kitô nơi một người hành khất là dấu cho thấy rằng chúng ta đã đánh mất khả năng tìm thấy Ngài nơi Phép Thánh Thể... Ngài đã đến trong thân phận chịu sự mục nát của người nghèo... Chúa Giêsu đã đến với bạn và với tôi. Nhưng rất thường khi, chúng ta làm lơ và bỏ qua Ngài.”
Ngay từ lúc ban đầu, Thánh Thể đã được dùng cho những ý định sau: trước hết, là để tạo nên tình thân hữu giữa Thiên Chúa và dân của Ngài; thứ đến, là để tạo lập sự hiệp nhất trong Thân Thể Đức Kitô qua việc chia sẻ và trao tặng với nhau giữa người giàu và người nghèo. Mẹ Teresa cùng muốn chúng ta nhận thức rõ về mục đích nguyên thuỷ của Phép Thánh Thể để bắt đầu sống Thánh lễ, để thấy Thánh Thể như Bí tích Tình Yêu giữa Đấng Tạo Hoá và các tạo vật của Ngài, và rồi chia sẻ cuộc sống của chúng ta cho người khác và nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bánh Thánh, trong người nghèo và những người đau khổ ngoài đường phố.
Mẹ Teresa đã nhấn mạnh vào sự mộ mến Mình Thánh Chúa bởi vì Chúa Giêsu cư ngụ trong hình Bánh và hình Rượu để gặp gỡ và làm thoả mãn mơ ước và tình yêu của chúng ta đối với Ngài. Đó là lý do tại sao Mẹ Teresa và các nữ tu của Mẹ cần được kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể. Họ thường bắt đầu một ngày với Thánh lễ Misa và việc Hiệp lễ. Khi chiều về, sau khi đã phục vụ và chăm sóc Chúa Giêsu trong những người nghèo, họ thường kết thúc ngày sống bằng một giờ chầu Thánh Thể, là nơi liên kết họ với Chúa Giêsu và với người nghèo mà họ phục vụ. Đây chính là điều làm cho họ trở thành những nữ tu chiêm niệm giữa lòng thế giới, vì thực sự họ đã sống hai mươi bốn giờ trước sự hiện diện của Chúa Giêsu: trong Thánh lễ, trong những người đói khát, kẻ trần truồng, người vô gia cư, trong những người cô đơn không được ai biết đến và cũng chẳng được ai yêu thương.
Đời sống chiêm niệm phải chứa đựng những đặc tính sau: “Phải là những thừa sai: qua việc đi tìm kiếm các linh hồn ở khắp nơi - bằng đời sống cầu nguyện hay bằng những hành động cụ thể; phải là những nhà chiêm niệm: qua việc thu họp cả thế giới vào tâm lòng chúng ta là nơi Thiên Chúa ngự trị và chờ đợi; phải thuộc về tất cả thế giới: qua việc cầu nguyện và chiêm niệm với tất cả tạo vật và cho tất cả, đặc biệt là cầu nguyện và chiêm niệm cho tinh thần của những người nghèo nhất trong những người nghèo.”
4.8 MẸ TERESA MƠ ƯỚC LÀM THOẢ MÃN TIẾNG KÊU KHÁT CỦA CHÚA KITÔ : “ TA KHÁT”
Chúa Giêsu, trong tình yêu thẳm sâu và lòng khao khát cứu độ chúng ta, đã sẵn lòng chịu đau khổ nhục nhằn trên Thập giá. Khi bị treo lơ lửng giữa trời và đất, cùng chịu cơn hấp hối trên Thập tự, Ngài đã thốt ra bảy lời nói sau cùng. “Ta khát” đã được xem như một trong bảy lời trối sau cùng của Chúa Giêsu khi Ngài sắp thở hơi cuối cùng trên Thập giá. Đối với người không có đức tin, họ thường hiểu lầm rằng đây là một tiếng kêu than khát nước đối với một người đã mất quá nhiều máu và thường bị thiếu nước. Một người đang khát thì tự nhiên muốn có nước uống. Nhưng, với những người có lòng tin, lời nói này chứa đựng một ý nghĩa rất sâu xa. Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen đã trình bày về lời nói này một cách hùng hồn rằng: “Vào lúc mà Đấng Cứu Độ chúng ta tóm kết lại bài giảng của Ngài, thì không phải là một lời nguyền rủa trên những kẻ đóng đinh Ngài, không phải là một lời trách mắng các môn đệ nhát đảm đang đứng lẫn lộn với đám người vây quanh, cũng không một tiếng kêu khinh miệt với đám lính Rôma, không một lời mang lại niềm hy vọng cho Mađêlêna, không một lời yêu thương cho Gioan, cũng chẳng có một lời giã từ với người mẹ rất thương mến của Ngài. Thậm chí cũng không một lời nói với Thiên Chúa trong giờ phút ấy ! Vượt khỏi sự sâu thẳm của Trái Tim rất thánh, đã vọt ra qua đôi môi nứt nẻ của Ngài một lời đáng tôn kính: ‘Ta khát !’
- Chúa Kitô, Đấng đã chết vì yêu thương trên Thập giá, đã rút cạn chính Ngài. Không còn điều gì hơn mà Ngài đã không làm vì yêu thương. Khi đã đổ hết nước tình yêu vô tận của mình, Chúa Giêsu đã la lên vì khát tình yêu của chúng ta !”
Khi Mẹ Teresa đọc được những lời này trong Tin mừng Thánh Gioan, Mẹ hiểu rằng Chúa Giêsu đang khát đến nứt nẻ trong con người của những người nghèo. Mẹ cảm thấy nhu cầu làm thoả mãn cơn khát của Chúa Giêsu. Mẹ đã thừa nhận chắc chắn rằng lời nói này của Chúa Giêsu đã chỉ rõ sứ mạng của Mẹ. Mẹ thường dùng lời: “ Ta khát” như là một tiếng la tranh đấu cho sự huấn luyện và sự tồn tại của Dòng Thừa Sai Bác Ái khi Mẹ nói: “Đối với tôi đã quá rõ ràng: mọi thứ trong Hội dòng Thừa Sai Bác Ái chỉ tồn tại để làm thoả mãn Chúa Giêsu.”
Trong mọi nhà nguyện mà các Thừa Sai Bác Ái cầu nguyện và thờ lạy, một trong các bức tường của nhà nguyện được treo tấm bảng viết tiếng kêu của Thiên Chúa: “Ta khát”. “Ở Yemen, viết ‘Ta khát’ bằng tiếng Anh và tiếng Ả Rập; ở Gaza, ‘Ta khát’ bằng tiếng Anh và tiếng Do Thái; ở Rôma, ‘Ta khát’ bằng tiếng Anh và tiếng Ý; Trong mọi nhà của các cộng đoàn chúng tôi, khi bạn đi vào nhà nguyện, bạn sẽ nhìn thấy chữ ‘Ta khát’. Đó là tiếng kêu của Chúa Giêsu. Chúng tôi hiện diện là để an ủi Chúa Giêsu, để làm vơi cơn khát tình yêu của Ngài. Đó chính là vai trò và mục đích của chúng tôi.”
4.9 KẾT LUẬN
Những công việc mà Dòng Thừa Sai Bác Ái đang thực hiện để làm thoả mãn cơn khát của Chúa Giêsu là chúc thư trực tiếp đối với Linh Đạo của Mẹ Teresa: thinh lặng, cầu nguyện, tin tưởng, yêu thương, phục vụ và bình an. Sự hiểu biết sâu xa về Linh đạo đã dẫn Mẹ đến sự nhận biết rõ ràng sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể và trong người nghèo. Điều này đã làm cho Mẹ có khả năng ôm lấy những con người cùng khốn nhất mà hầu hết chúng ta thường xa tránh và cảm thấy ghê tởm. Mặc dù với tất cả những việc phục vụ tuyệt vời nhất mà Mẹ đã hiến dâng cho những con người bất hạnh, Mẹ vẫn cảm thấy tình yêu của Mẹ thật chẳng là gì khi so với tình yêu mà Chúa đã dành cho Mẹ. Tâm tình này của Mẹ đã được phản ánh trong một bài hát cầu nguyện mà Mẹ rất yêu thích, đó là bài Chỉ Là Cái Bóng:
Lạy Chúa, tình yêu mà con dành cho Chúa
Chỉ là một cái bóng của tình yêu mà Chúa dành cho con,
một tình yêu sâu lắng và vĩnh cửu.
Niềm tin tưởng của con ở nơi Ngài, Lạy Chúa
chỉ là một cái bóng của sự tín nhiệm mà Chúa đặt nơi con,
một sự tín nhiệm sâu xa và chân chật.
Cuộc sống của con là ở trong tay Ngài.
Chúa ơi, tình yêu mà con dành cho Chúa sẽ lớn lên.
Ánh sáng của Chúa trong con sẽ chiếu toả.
Lạy Thiên Chúa của con, giấc mơ con có ngày hôm nay,
cũng chỉ là một bóng mờ trong giấc mơ của Chúa về con,
nếu như con chỉ đi theo một mình Ngài.
Niềm vui con cảm nhận ngày hôm nay, lạy Chúa,
chỉ là một bóng mờ so với niềm vui của Chúa đối với con.
Tất cả của con chỉ là một cái bóng trong mọi sự
trong ngày con được tận mắt nhìn thấy Chúa.
Nỗi xúc động về nhu cầu đáp trả tình yêu Thiên Chúa đã làm Mẹ gia tăng mơ ước làm giảm vơi cơn khát của Chúa Kitô. Ý định làm vơi cơn khát của Chúa Kitô nơi Mẹ có lẽ đã bắt đầu ở Calcutta, nhưng mơ ước đó đã tràn qua Calcutta để đến với các quốc gia khác trên khắp thế giới. Chương kế tiếp sẽ trình thuật cách sáng sủa về sự hiện diện của Mẹ Teresa tại Việt Nam.
|